Chi phí hỗ trợ lãi vay cho khách mua nhà đang là một trong những khoản chi gây tranh cãi nhiều nhất khi doanh nghiệp bất động sản quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Không ít kế toán loay hoay không biết nên xếp khoản này vào chi phí bán hàng hay lãi vay của chính doanh nghiệp, trong khi cách xác định sai có thể khiến toàn bộ chi phí bị loại, hoặc bị áp nhầm trần 30% EBITDA theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Bài viết phân tích bản chất khoản chi này, điều kiện được trừ, bộ hồ sơ cần chuẩn bị và những rủi ro thực tế mà doanh nghiệp bất động sản thường gặp khi bị thanh tra, quyết toán thuế.

Tóm tắt nhanh

Bản chất khoản chi: Chủ đầu tư hỗ trợ lãi vay là chính sách, ưu đãi bán hàng, được xét chi phí được trừ theo Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, không bị khống chế trần lãi vay 30% EBITDA theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP vì đây không phải là lãi vay của chính chủ đầu tư.

Điều kiện được trừ: Khoản chi thực tế phát sinh, phục vụ hoạt động kinh doanh; có hóa đơn, chứng từ hợp pháp; thanh toán không dùng tiền mặt nếu từ 5 triệu đồng trở lên.

Hồ sơ cần chuẩn bị:

  • Chính sách bán hàng hoặc quyết định nội bộ về hỗ trợ lãi vay (đối tượng, mức hỗ trợ, thời gian, thường là 2 năm đầu).
  • Hợp đồng mua bán có điều khoản hỗ trợ lãi vay.
  • Thỏa thuận giữa chủ đầu tư và ngân hàng, hoặc thỏa thuận ba bên, về việc trả thay lãi vay.
  • Bảng kê chi tiết lãi vay hằng tháng, có dấu tròn xác nhận của ngân hàng.
  • Ủy nhiệm chi hoặc chứng từ chuyển khoản trả cho ngân hàng, khớp với bảng kê.

Chính sách hỗ trợ lãi vay của chủ đầu tư là gì?

Chính sách hỗ trợ lãi vay của chủ đầu tư
Chính sách hỗ trợ lãi vay của chủ đầu tư

Trong các dự án căn hộ, nhà phố hay khu đô thị, chủ đầu tư thường đưa ra cam kết hỗ trợ lãi vay cho khách hàng vay ngân hàng để mua nhà, phổ biến nhất là trong hai năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng mua bán. Về bản chất, đây là một chính sách bán hàng chứ không phải một dịch vụ tài chính do chủ đầu tư cung cấp, dù nhiều người nhầm lẫn hai khái niệm này với nhau.

Vì sao chủ đầu tư áp dụng chính sách hỗ trợ lãi vay

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh, mức lãi vay mua nhà thực tế khách hàng phải trả sau giai đoạn ưu đãi ban đầu của ngân hàng thường không hề thấp. Chủ đầu tư dùng khoản hỗ trợ lãi vay như một công cụ kích cầu, giúp khách hàng giảm áp lực tài chính trong giai đoạn đầu sở hữu nhà, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh so với các dự án không có chính sách tương tự. Nhìn từ góc độ kinh doanh, đây thực chất là một hình thức chiết khấu gián tiếp, được cấu trúc lại dưới dạng hỗ trợ lãi suất thay vì giảm giá trực tiếp trên hợp đồng.

Các hình thức hỗ trợ lãi vay phổ biến

Chính sách hỗ trợ lãi vay không có một khuôn mẫu cố định mà thay đổi tùy theo từng chủ đầu tư và từng giai đoạn thị trường. Ba hình thức phổ biến nhất gồm:

  • Hỗ trợ toàn bộ lãi suất trong 24 tháng đầu kể từ ngày ký hợp đồng mua bán.
  • Hỗ trợ phần chênh lệch giữa lãi suất ưu đãi ban đầu của ngân hàng và lãi suất thả nổi sau đó.
  • Hỗ trợ theo tiến độ thanh toán, thay vì tính theo một mốc thời gian cố định.

Điểm chung của cả ba hình thức là chủ đầu tư đứng ra trả một phần hoặc toàn bộ tiền lãi thay cho khách hàng, còn khoản vay vẫn đứng tên khách hàng và hợp đồng tín dụng vẫn ký trực tiếp giữa khách hàng với ngân hàng.

Bản chất khoản chi hỗ trợ lãi vay dưới góc độ thuế

Bản chất khoản chi hỗ trợ lãi vay dưới góc độ thuế
Bản chất khoản chi hỗ trợ lãi vay dưới góc độ thuế

Để xác định một khoản chi có được trừ khi tính thuế TNDN hay không, điều đầu tiên cần làm rõ không phải là số tiền hay tên gọi trên chứng từ, mà là bản chất kinh tế của giao dịch. Đây cũng chính là điểm nhiều doanh nghiệp bất động sản nhầm lẫn khi xử lý khoản hỗ trợ lãi vay cho khách hàng.

Đây là chi phí bán hàng, không phải lãi vay của chính doanh nghiệp

Khoản tiền chủ đầu tư trả thay lãi vay cho khách hàng không phát sinh từ một hợp đồng tín dụng mà doanh nghiệp là bên đi vay. Doanh nghiệp không vay tiền của ngân hàng trong giao dịch này, khách hàng mới là người đứng tên khoản vay và trực tiếp ký hợp đồng tín dụng. Chủ đầu tư chỉ đóng vai trò trả thay một phần nghĩa vụ tài chính cho khách hàng như một cam kết trong chính sách bán hàng. Vì vậy, về bản chất, đây là chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh, tương tự các khoản chiết khấu, khuyến mại hay hỗ trợ sau bán hàng, chứ không phải lãi vay theo đúng nghĩa mà doanh nghiệp phải trả cho khoản nợ của chính mình.

Căn cứ pháp lý: Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC

Theo Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC), khoản chi phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định, và có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên, sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Khoản hỗ trợ lãi vay cho khách hàng, nếu đáp ứng đủ các điều kiện này, hoàn toàn có cơ sở để được ghi nhận là chi phí hợp lý, tương tự cách cơ quan thuế vẫn chấp nhận các khoản chi khuyến mại, hỗ trợ bán hàng khác của doanh nghiệp.

Vì sao khoản chi này không bị khống chế trần 30% EBITDA theo Nghị định 132/2020

Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn nhất và cũng là lý do nhiều kế toán e ngại khi hạch toán khoản chi này. Quy định khống chế 30% EBITDA tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP chỉ áp dụng cho chi phí lãi vay phát sinh từ giao dịch liên kết, tức là lãi vay mà chính doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình. Trong khi đó, khoản hỗ trợ lãi vay cho khách hàng không phải là lãi vay của doanh nghiệp, doanh nghiệp không đứng tên vay, không phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi với ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đó. Do vậy, khoản chi này nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của quy định trần lãi vay, và không bị cộng dồn vào tổng chi phí lãi vay để so sánh với 30% EBITDA.

Sự khác biệt giữa hai loại chi phí này thể hiện rõ qua bảng so sánh sau:

Tiêu chí Lãi vay của doanh nghiệp Chi phí hỗ trợ lãi vay cho khách hàng
Bên đứng tên vay Doanh nghiệp Khách hàng cá nhân
Căn cứ pháp lý áp dụng Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC
Có bị áp trần 30% EBITDA Có, nếu là giao dịch liên kết Không
Bản chất khoản chi Chi phí tài chính Chi phí bán hàng, ưu đãi khách hàng

Bảng trên cho thấy việc xác định đúng bản chất khoản chi ngay từ đầu quyết định toàn bộ cách xử lý thuế sau này. Nếu nhầm lẫn hai loại chi phí, doanh nghiệp có thể tự đưa mình vào diện bị áp trần một cách không cần thiết, hoặc ngược lại, chủ quan cho rằng khoản chi nào liên quan đến “lãi vay” cũng đương nhiên được trừ mà bỏ qua các điều kiện về chứng từ.

Điều kiện để chi phí hỗ trợ lãi vay được trừ khi tính thuế TNDN

Xác định đúng bản chất chỉ là bước đầu tiên. Để khoản chi thực sự được cơ quan thuế chấp nhận, doanh nghiệp còn phải đáp ứng đầy đủ ba điều kiện theo quy định hiện hành về chi phí được trừ.

Thực tế phát sinh, phục vụ hoạt động kinh doanh

Khoản hỗ trợ lãi vay phải gắn với một giao dịch mua bán thực tế, có hợp đồng mua bán căn hộ hoặc nhà ở kèm điều khoản cam kết hỗ trợ lãi vay rõ ràng. Nếu chỉ có thông báo miệng hoặc cam kết bằng lời với khách hàng mà không thể hiện trên hợp đồng hay văn bản chính sách bán hàng, cơ quan thuế hoàn toàn có cơ sở để đặt câu hỏi về tính xác thực của giao dịch.

Có hóa đơn, chứng từ hợp pháp

Nhiều kế toán bỏ sót điều kiện này vì khoản chi không phát sinh hóa đơn theo mô hình mua bán hàng hóa, dịch vụ thông thường. Doanh nghiệp cần chứng minh bằng bộ chứng từ nội bộ và chứng từ do ngân hàng cung cấp, bao gồm bảng kê chi tiết lãi vay hằng tháng của từng khách hàng có xác nhận của ngân hàng, thay vì chờ đợi một hóa đơn GTGT xuất trực tiếp cho doanh nghiệp như các giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ thông thường.

Thanh toán không dùng tiền mặt với khoản từ 5 triệu đồng trở lên

Toàn bộ số tiền chủ đầu tư chuyển cho ngân hàng để trả thay lãi vay của khách hàng cần được thực hiện qua chuyển khoản, và số tiền trên ủy nhiệm chi phải khớp với bảng kê chi tiết lãi vay hằng tháng. Đây là điều kiện tưởng chừng đơn giản nhưng lại là nguyên nhân phổ biến khiến chi phí bị loại khi có sự chênh lệch nhỏ giữa số liệu trên bảng kê và số tiền thực chuyển, do sai sót trong quá trình đối chiếu giữa các bên.

Cách hạch toán chi phí hỗ trợ lãi vay trong sổ sách kế toán

Nắm được điều kiện được trừ mới chỉ là điều kiện cần, kế toán còn phải biết ghi nhận khoản chi này vào đúng tài khoản để báo cáo tài chính phản ánh trung thực bản chất giao dịch, tránh nhầm lẫn với chi phí tài chính.

Ví dụ minh họa cách ghi nhận chi phí

Giả sử một dự án cam kết hỗ trợ lãi suất 8%/năm trong 24 tháng đầu cho khách hàng vay 2 tỷ đồng mua căn hộ. Mức hỗ trợ hằng tháng tương ứng khoảng 13,3 triệu đồng (2 tỷ đồng nhân 8% chia 12 tháng). Hằng tháng, khi chuyển tiền cho ngân hàng để trả thay phần lãi này, kế toán ghi nhận Nợ TK 641 (chi phí bán hàng theo Thông tư 200) hoặc TK 6421 (theo Thông tư 133), đối ứng Có TK 112, với số tiền khớp đúng bảng kê lãi vay ngân hàng cung cấp cho từng khách hàng trong tháng đó.

Trường hợp hỗ trợ lãi vay trả trước một lần cần phân bổ dần

Nếu chủ đầu tư không trả theo tháng mà chi trả trước toàn bộ khoản hỗ trợ 24 tháng ngay từ đầu, khoản chi này không nên ghi thẳng vào chi phí trong kỳ chi tiền. Về nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí, khoản chi cần được đưa vào chi phí trả trước (TK 242) rồi phân bổ dần vào chi phí bán hàng theo từng tháng tương ứng với thời gian cam kết hỗ trợ. Bỏ qua bước phân bổ này là lỗi khá phổ biến, khiến lợi nhuận của kỳ chi tiền bị phản ánh sai lệch so với các kỳ sau.

Xử lý tình huống ngân hàng xuất chứng từ lãi vay cho cá nhân, không xuất cho chủ đầu tư

Một tình huống khá phổ biến trong thực tế là ngân hàng chỉ lập chứng từ, thông báo lãi vay cho cá nhân khách hàng, người đứng tên khoản vay, chứ không xuất bất kỳ chứng từ nào trực tiếp cho chủ đầu tư. Đây là điểm khiến nhiều kế toán lo ngại khoản chi sẽ không có cơ sở để hạch toán.

Vì sao dễ bị quy là “chi hộ cá nhân”

Nếu chỉ nhìn vào luồng chứng từ đơn thuần, việc doanh nghiệp chuyển tiền cho ngân hàng nhưng ngân hàng lại ghi nhận là tiền trả lãi của cá nhân khách hàng rất dễ bị hiểu nhầm thành khoản chi hộ không liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp không có tài liệu nào khác chứng minh mối liên hệ giữa khoản chuyển tiền với chính sách bán hàng đã cam kết, cơ quan thuế hoàn toàn có căn cứ để loại khoản chi này ra khỏi chi phí được trừ, thậm chí coi đây là khoản chi không phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Cách chứng minh đây là chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, không phải chi hộ

Điều kiện then chốt để xử lý tình huống này là phải có văn bản làm rõ mối quan hệ ba bên giữa chủ đầu tư, ngân hàng và khách hàng, trong đó nêu rõ chủ đầu tư có nghĩa vụ trả thay một phần lãi vay theo chính sách bán hàng đã công bố. Khi có văn bản này, luồng tiền từ doanh nghiệp đến ngân hàng, dù ngân hàng ghi nhận cho tài khoản của khách hàng, vẫn được lý giải rõ ràng là thực hiện nghĩa vụ trả thay theo cam kết bán hàng, chứ không phải một khoản chi hộ cá nhân không có căn cứ. Đây cũng là kinh nghiệm mà đội ngũ tư vấn thuế của MAN – Master Accountant Network thường khuyến nghị các doanh nghiệp bất động sản chuẩn hóa ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách bán hàng, thay vì chờ đến khi quyết toán mới bổ sung hồ sơ.

Hồ sơ cần chuẩn bị để chứng minh với cơ quan thuế

Sau khi đã xác định đúng bản chất khoản chi và điều kiện áp dụng, phần việc còn lại là chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để sẵn sàng giải trình khi có yêu cầu từ cơ quan thuế. Trên thực tế, phần lớn rủi ro bị loại chi phí không đến từ bản chất giao dịch mà đến từ việc hồ sơ thiếu đồng bộ hoặc không được lưu trữ có hệ thống ngay từ đầu.

Bộ hồ sơ tối thiểu cần có gồm năm loại tài liệu sau:

  • Chính sách bán hàng hoặc quyết định nội bộ về hỗ trợ lãi vay, trong đó nêu rõ đối tượng áp dụng, mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ (thường là 2 năm đầu).
  • Hợp đồng mua bán nhà ở có điều khoản hỗ trợ lãi vay, thể hiện cam kết này là một phần của giao dịch mua bán, không phải thỏa thuận riêng lẻ ngoài hợp đồng.
  • Thỏa thuận giữa chủ đầu tư và ngân hàng, hoặc thỏa thuận ba bên giữa chủ đầu tư, ngân hàng và khách hàng, về việc trả thay lãi vay.
  • Bảng kê chi tiết lãi vay hằng tháng của từng khách hàng, có dấu xác nhận của ngân hàng.
  • Ủy nhiệm chi hoặc chứng từ chuyển khoản của doanh nghiệp trả cho ngân hàng, khớp với số liệu trên bảng kê.

Khi năm loại tài liệu này khớp nhau về số tiền, thời gian và đối tượng áp dụng, doanh nghiệp có đủ cơ sở để giải trình khoản chi này một cách nhất quán, thay vì phải giải thích rời rạc từng phần khi cơ quan thuế đặt câu hỏi.

Có bắt buộc đăng ký chương trình khuyến mại với Sở Công Thương không?

Vì bản chất khoản hỗ trợ lãi vay gần với một hình thức ưu đãi bán hàng, không ít doanh nghiệp đặt câu hỏi liệu có cần thực hiện thủ tục đăng ký chương trình khuyến mại theo Luật Thương mại hay không trước khi triển khai.

Khi nào chương trình hỗ trợ lãi vay không thuộc diện phải đăng ký

Không phải mọi hình thức ưu đãi bán hàng đều bắt buộc đăng ký với Sở Công Thương. Nhiều doanh nghiệp bất động sản khi tham vấn bộ phận pháp chế nội bộ nhận được kết luận rằng chương trình hỗ trợ lãi vay không thuộc diện chương trình khuyến mại phải đăng ký theo quy định về hoạt động xúc tiến thương mại, do đây là một điều khoản gắn liền trực tiếp với hợp đồng mua bán chứ không phải một chương trình khuyến mại độc lập, công khai áp dụng cho đại chúng theo hình thức thông thường. Dù vậy, mỗi doanh nghiệp nên rà soát cụ thể với bộ phận pháp chế của mình trước khi khẳng định, bởi cách phân loại có thể khác nhau tùy vào cách thiết kế và công bố chính sách.

Rủi ro nếu thỏa thuận với ngân hàng chỉ bằng miệng, chưa có văn bản

Ngay cả khi chương trình không thuộc diện phải đăng ký khuyến mại, việc thỏa thuận với ngân hàng chỉ dừng ở mức trao đổi miệng để ngân hàng lập bảng kê lãi vay hằng tháng vẫn tiềm ẩn rủi ro lớn về mặt hồ sơ thuế. Nếu không có văn bản xác nhận chính thức giữa chủ đầu tư và ngân hàng, doanh nghiệp sẽ khó chứng minh nghĩa vụ trả thay lãi vay là một cam kết có tính ràng buộc, thay vì một khoản chi tự nguyện không rõ căn cứ. Về lâu dài, doanh nghiệp nên chủ động đề nghị ngân hàng xác nhận bằng văn bản, dù chỉ là một thư xác nhận ngắn gọn, để tránh bị động khi cơ quan thuế yêu cầu giải trình.

Thời điểm ghi nhận chi phí hỗ trợ lãi vay đối với doanh nghiệp bất động sản

Một khía cạnh khác thường bị bỏ qua là thời điểm ghi nhận chi phí, đặc biệt với đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thường thu tiền theo tiến độ trước khi bàn giao nhà.

Trường hợp đã ghi nhận doanh thu

Nếu dự án đã đủ điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy định kế toán và thuế, khoản chi hỗ trợ lãi vay phát sinh trong kỳ được ghi nhận trực tiếp vào chi phí của kỳ đó, tương ứng với nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.

Trường hợp thu tiền theo tiến độ nhưng chưa ghi nhận doanh thu

Với các dự án chủ đầu tư thu tiền ứng trước theo tiến độ nhưng chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu, khoản chi khuyến mại, hỗ trợ bán hàng phát sinh trong giai đoạn này, theo hướng dẫn tại Thông tư 78/2014/TT-BTC, sẽ được tập hợp và tính vào chi phí được trừ của năm tài chính khi doanh nghiệp chính thức ghi nhận doanh thu, không phải ghi nhận ngay vào năm phát sinh khoản chi. Đây là điểm doanh nghiệp cần lưu ý để tránh ghi nhận sai kỳ, dẫn đến sai lệch số liệu quyết toán thuế giữa các năm tài chính.

Một số rủi ro và lưu ý khi hạch toán chi phí hỗ trợ lãi vay

Ngoài các điều kiện và hồ sơ đã nêu, thực tế triển khai còn phát sinh một số rủi ro mà doanh nghiệp nên chủ động phòng ngừa thay vì xử lý khi đã bị đoàn thanh tra đặt vấn đề.

Rủi ro bị loại chi phí khi thanh tra, quyết toán thuế

Rủi ro lớn nhất không nằm ở việc khoản chi có được trừ về nguyên tắc hay không, mà nằm ở việc doanh nghiệp có đủ khả năng chứng minh bằng hồ sơ đồng bộ hay không. Trong nhiều trường hợp, chính sách hỗ trợ lãi vay được truyền đạt rõ ràng cho khách hàng nhưng lại không được thể hiện đầy đủ bằng văn bản nội bộ, dẫn đến việc dù bản chất giao dịch hoàn toàn hợp lý, doanh nghiệp vẫn bị loại chi phí chỉ vì thiếu chứng từ chứng minh.

Lưu ý khi dòng tiền không khớp giữa bảng kê và chứng từ chuyển khoản

Sai lệch dòng tiền là lỗi phổ biến khác: số liệu trên bảng kê lãi vay hằng tháng của ngân hàng không khớp hoàn toàn với số tiền doanh nghiệp thực chuyển, do có khách hàng trả nợ trước hạn, tất toán sớm hoặc thay đổi lịch trả nợ. Doanh nghiệp nên đối chiếu định kỳ hằng tháng thay vì dồn đến cuối năm mới rà soát, để kịp thời phát hiện và giải trình các khoản chênh lệch nhỏ trước khi chúng tích lũy thành sai lệch lớn ảnh hưởng đến toàn bộ hồ sơ quyết toán.

Kết luận

Chi phí hỗ trợ lãi vay cho khách mua nhà hoàn toàn có thể được tính là chi phí hợp lý khi xác định thuế TNDN, với điều kiện doanh nghiệp nhận diện đúng bản chất khoản chi là chi phí bán hàng theo Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, không phải lãi vay chịu sự điều chỉnh của trần 30% EBITDA theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Điều quyết định khả năng được chấp nhận không nằm ở tên gọi khoản chi, mà ở việc doanh nghiệp có xây dựng chính sách bán hàng rõ ràng, có thỏa thuận ba bên bằng văn bản với ngân hàng, và duy trì một bộ hồ sơ, chứng từ khớp nhau xuyên suốt quá trình triển khai hay không. Doanh nghiệp bất động sản nên chuẩn hóa quy trình này ngay từ khi thiết kế chính sách bán hàng, thay vì để đến giai đoạn quyết toán hay thanh tra mới tìm cách hoàn thiện hồ sơ.

Thông tin liên hệ dịch vụ tại MAN – Master Accountant Network

Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network, Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Tài chính doanh nghiệp.

MAN – Master Accountant Network cam kết cung cấp thông tin chuyên môn minh bạch, cập nhật theo quy định pháp luật hiện hành và tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán – thuế.

Câu hỏi thường gặp

Chi phí hỗ trợ lãi vay có tính vào giá vốn hay giá bán căn hộ không?

Khoản chi này thường được hạch toán vào chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ tương ứng, không cộng vào giá vốn hay điều chỉnh giá bán trên hợp đồng mua bán đã ký với khách hàng.

Nếu thiếu một trong năm loại hồ sơ thì có bị loại toàn bộ chi phí không?

Không có quy định cứng về việc thiếu một loại chứng từ sẽ tự động loại toàn bộ chi phí, nhưng thiếu hồ sơ khiến doanh nghiệp mất đi cơ sở chứng minh tính liên kết giữa các bên, nên trên thực tế cơ quan thuế thường yêu cầu bổ sung, và nếu không bổ sung được sẽ loại phần chi phí tương ứng không chứng minh được.

Khách hàng có phải kê khai khoản lãi được hỗ trợ vào thu nhập chịu thuế TNCN không?

Đây là vấn đề thuộc phạm vi thuế thu nhập cá nhân của khách hàng, cần được xem xét riêng theo từng trường hợp cụ thể và không ảnh hưởng đến việc xác định chi phí được trừ của chủ đầu tư, do đó doanh nghiệp không nên nhầm lẫn hai vấn đề thuế này với nhau khi giải trình hồ sơ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tracking khác như Google Analytics... để cải thiện trải nghiệm duyệt web của bạn.