Bỏ giấy phép cho thuê lại lao động được áp dụng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ. Doanh nghiệp không thực hiện thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi giấy phép trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực, nhưng vẫn phải thông báo hoạt động, báo cáo định kỳ và thực hiện các nghĩa vụ liên quan.
Không thực hiện thủ tục cấp phép từ 01/7/2026
Theo khoản C.I Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP, từ ngày 01/7/2026 doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động không thực hiện một số thủ tục cấp phép trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực. Danh mục gồm:
- Cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
- Gia hạn giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
- Cấp lại giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
- Thu hồi giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
- Nộp bổ sung tiền ký quỹ.
Điểm cần lưu ý là cách gọi “bỏ giấy phép” trong tiêu đề chỉ nên được hiểu theo phạm vi thời gian áp dụng của Nghị quyết. Đây không phải là căn cứ để kết luận rằng chế độ giấy phép đã được bãi bỏ vĩnh viễn khỏi hệ thống pháp luật. Chính phủ xác định Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực đến hết ngày 28/02/2027, đồng thời quy định các văn bản pháp luật mới có hiệu lực trong khoảng thời gian này có thể làm thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực của các quy định tương ứng trong Nghị quyết.
Doanh nghiệp phải thông báo trước khi hoạt động

Thay cho thủ tục xin cấp giấy phép trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực, doanh nghiệp bắt đầu hoạt động cho thuê lại lao động phải thực hiện thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi vận hành. Theo hướng dẫn của Sở Nội vụ thành phố Hà Nội, thông báo được lập bằng văn bản và có thể gửi trực tuyến, qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại Sở Nội vụ.
Đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động, thông báo cần thể hiện các thông tin chính sau:
- Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp.
- Ngân hàng nhận ký quỹ và địa chỉ ngân hàng nhận ký quỹ.
- Số hợp đồng ký quỹ.
- Ngày bắt đầu hoạt động cho thuê lại lao động.
Khi các thông tin đã thông báo thay đổi, doanh nghiệp phải gửi thông báo cập nhật. Theo Công văn của Sở Nội vụ Hà Nội, việc thông báo được thực hiện theo khoản C.IX và C.X Phụ lục I.4 của Nghị quyết.
Doanh nghiệp đã có giấy phép còn hiệu lực
Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động còn hiệu lực sau ngày 01/7/2026 không phải thực hiện lại thủ tục thông báo hoạt động cho thuê lại lao động. Quy định này được Sở Nội vụ Hà Nội nêu rõ trong hướng dẫn thực hiện Nghị quyết.
Nghĩa vụ ký quỹ vẫn được duy trì
Nghị định 145/2020/NĐ-CPNghị quyết vẫn quy định doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ và thực hiện các nội dung quản lý, sử dụng tiền ký quỹ theo cơ chế mới. Doanh nghiệp có thể đối chiếu thêm quy định về điều kiện và quan hệ lao động trên MAN khi rà soát hồ sơ và nghĩa vụ liên quan.
Theo Công văn của Sở Nội vụ Hà Nội, các nội dung được hướng dẫn gồm mức ký quỹ và mục đích sử dụng, quản lý tiền ký quỹ, rút tiền ký quỹ và trích tiền ký quỹ. Các nội dung này được dẫn chiếu đến các khoản C.V, C.VI, C.VII và C.VIII Phụ lục I.4 của Nghị quyết.
Báo cáo định kỳ hằng quý
Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải báo cáo tình hình hoạt động định kỳ hằng quý. Thời hạn là trước ngày 05 của tháng đầu quý tiếp theo; báo cáo gửi Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đến hoạt động cho thuê lại lao động, theo Mẫu số 03 Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Vì vậy, bộ phận kế toán, nhân sự hoặc pháp chế nên đưa mốc ngày 05 của tháng đầu quý vào lịch tuân thủ nội bộ và thống nhất đầu mối chuẩn bị dữ liệu báo cáo.
Chấm dứt hoạt động cho thuê lại lao động
Khi chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện thông báo với cơ quan quản lý. Theo hướng dẫn của Sở Nội vụ Hà Nội, thông báo chấm dứt cần có tên doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp, số hợp đồng cho thuê lại lao động đang thực hiện, số lao động đang thực hiện các hợp đồng và ngày chấm dứt hoạt động.
Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày chính thức chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp phải thanh lý toàn bộ các hợp đồng cho thuê lại lao động đang thực hiện và giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thuê lại và bên thuê lại theo quy định. Nếu phát sinh sự cố liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động, doanh nghiệp phải kịp thời báo cáo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương.
Nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động
Trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực, các nguyên tắc về hoạt động cho thuê lại lao động tiếp tục được áp dụng theo quy định tương ứng của Bộ luật Lao động 2019 và Nghị quyết. Bộ luật Lao động 2019 quy định thời hạn cho thuê lại lao động đối với người lao động tối đa là 12 tháng và xác định các trường hợp được, không được sử dụng lao động thuê lại.
Các nguyên tắc thực tế cần lưu ý gồm:
- Thời hạn cho thuê lại lao động đối với người lao động tối đa là 12 tháng.
- Bên thuê lại lao động được sử dụng lao động thuê lại để đáp ứng tạm thời sự gia tăng đột ngột về nhu cầu lao động, thay thế người lao động trong một số trường hợp được luật quy định hoặc khi có nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
- Bên thuê lại lao động không được sử dụng lao động thuê lại để thay thế người lao động đang thực hiện quyền đình công hoặc giải quyết tranh chấp lao động; không có thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hoặc thay thế người lao động bị cho thôi việc trong các trường hợp luật quy định.
- Bên thuê lại lao động không được chuyển người lao động thuê lại cho người sử dụng lao động khác.
Riêng nội dung trước đây quy định bên thuê lại không được sử dụng lao động do doanh nghiệp “không có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động” cung cấp cần được đọc cùng Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP. Trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực, Nghị quyết quy định doanh nghiệp cho thuê lại lao động thực hiện thông báo hoạt động thay cho thủ tục cấp phép; vì vậy không nên giữ nguyên cách diễn đạt cũ mà không có phần giải thích về cơ chế chuyển tiếp.
Trách nhiệm của bên thuê lại lao động về an toàn, vệ sinh lao động
Theo khoản 2 Điều 65 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, bên thuê lại lao động phải thực hiện đầy đủ cam kết trong hợp đồng, không phân biệt đối xử về an toàn, vệ sinh lao động, kịp thời sơ cứu, cấp cứu và thông báo khi xảy ra tai nạn lao động hoặc sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, đồng thời thực hiện các trách nhiệm về huấn luyện, báo cáo, phối hợp điều tra và lưu giữ hồ sơ theo quy định.
Quyền và nghĩa vụ của bên thuê lại lao động
Theo Điều 57 Bộ luật Lao động 2019, bên thuê lại lao động có trách nhiệm thông báo, hướng dẫn người lao động thuê lại về nội quy và quy chế của mình; không được phân biệt đối xử về điều kiện lao động; có thể thỏa thuận về làm việc ban đêm, làm thêm giờ; phối hợp tuyển dụng chính thức người lao động thuê lại trong trường hợp luật cho phép; đồng thời trả lại người lao động không đáp ứng yêu cầu hoặc vi phạm kỷ luật theo thỏa thuận và cung cấp chứng cứ liên quan cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
Doanh nghiệp cần rà soát gì
Từ góc nhìn tuân thủ, MAN – Master Accountant Network khuyến nghị doanh nghiệp tập trung rà soát các nhóm việc sau để tránh hiểu “bỏ giấy phép” thành bỏ toàn bộ nghĩa vụ quản lý:
- Xác định doanh nghiệp đang thuộc trường hợp phải thông báo hoạt động hay đã có giấy phép còn hiệu lực sau ngày 01/7/2026.
- Rà soát thông tin doanh nghiệp, ngân hàng nhận ký quỹ, hợp đồng ký quỹ và ngày bắt đầu hoạt động để bảo đảm thông báo đầy đủ, chính xác.
- Thiết lập lịch báo cáo định kỳ trước ngày 05 của tháng đầu quý tiếp theo và chuẩn bị dữ liệu theo Mẫu số 03 Phụ lục I.4.
- Rà soát hồ sơ và quy trình quản lý tiền ký quỹ, bao gồm các trường hợp rút hoặc trích tiền ký quỹ.
- Nếu chấm dứt hoạt động, lập kế hoạch thanh lý hợp đồng và giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và bên thuê lại trong thời hạn 15 ngày làm việc.
Điểm cần đặc biệt lưu ý là Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có thời hạn áp dụng xác định. Doanh nghiệp không nên chỉ cập nhật quy trình theo mốc 01/7/2026 mà cần theo dõi các văn bản được ban hành trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực để kịp thời điều chỉnh cách thực hiện.
Kết luận
Từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027, trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực, doanh nghiệp cho thuê lại lao động không thực hiện các thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại hoặc thu hồi giấy phép theo cơ chế nêu tại Nghị quyết. Thay vào đó, doanh nghiệp phải thực hiện thông báo hoạt động, duy trì các nghĩa vụ liên quan đến ký quỹ, báo cáo định kỳ và chấm dứt hoạt động theo quy định.
Doanh nghiệp nên cập nhật quy trình tuân thủ, phân công rõ đầu mối phụ trách hồ sơ và theo dõi thời hạn báo cáo. Việc áp dụng cần được đối chiếu với tình trạng thực tế của doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có hiệu lực tại từng thời điểm.
Chứng chỉ hành nghề: Kiểm toán viên CPA Việt Nam
Kinh nghiệm: Hơn 30 năm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán và Tư vấn Tài chính

Nội dung liên quan
Tin tức Giấy phép lao động
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Kế toán - Thuế Kiểm toán