Nghị định 254/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành ngày 30/6/2026 và chính thức có hiệu lực chỉ một ngày sau đó, 1/7/2026, thay thế toàn bộ khung pháp lý cũ về hóa đơn điện tử tại Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP. Đây không phải một đợt sửa đổi mang tính kỹ thuật thông thường. Nghị định mới bổ sung hàng loạt cơ chế chưa từng có tiền lệ, từ quyền yêu cầu sàn thương mại điện tử cung cấp dữ liệu người mua đến việc khen thưởng người tiêu dùng tố giác hành vi trốn xuất hóa đơn, đồng thời khai tử hẳn hóa đơn giấy do cơ quan thuế đặt in. Với hàng triệu doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh đang trong quá trình chuyển đổi, việc nắm rõ những thay đổi này trước thời điểm áp dụng không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc để tránh rủi ro về thuế.

Nghị định 254/2026/NĐ-CP là gì?

Tổng quan điểm mới của Nghị định 254/2026/NĐ-CP
Tổng quan điểm mới của Nghị định 254/2026/NĐ-CP

Về bản chất, Nghị định 254/2026/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 trong lĩnh vực hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử. Nó thay thế vai trò mà Nghị định 123/2020/NĐ-CP từng đảm nhiệm suốt sáu năm, đồng thời gộp luôn cả những nội dung sửa đổi rải rác tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP vào một văn bản thống nhất. Cách làm này giúp giảm tình trạng người dùng phải tra cứu nhiều tầng văn bản chồng chéo, một vấn đề mà kế toán doanh nghiệp vẫn thường than phiền trong vài năm gần đây. Toàn bộ nội dung phân tích trong bài đã được đối chiếu với văn bản công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 30/6/2026, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn nên tra cứu văn bản gốc hoặc tham khảo ý kiến chuyên môn trước khi áp dụng vào từng trường hợp cụ thể.

Nghị định 254/2026/NĐ-CP thay thế văn bản nào

Kể từ ngày 1/7/2026, Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực thi hành. Mọi hướng dẫn, công văn hay quy trình nội bộ của doanh nghiệp còn viện dẫn hai văn bản này cần được cập nhật ngay, bởi các cơ quan thuế địa phương sẽ áp dụng quy định mới ngay từ ngày đầu tiên mà không có giai đoạn song song kéo dài.

Đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh của nghị định bao trùm tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, tổ chức và cá nhân khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, cơ quan thu thuế, phí, lệ phí, cùng các đơn vị cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử. Điểm đáng chú ý là phạm vi này còn mở rộng gián tiếp sang cả chủ quản sàn thương mại điện tử, dù bản thân sàn không trực tiếp xuất hóa đơn thay người bán trong đa số trường hợp.

Tổng quan điểm mới của Nghị định 254/2026/NĐ-CP

Trước khi đi vào từng nội dung cụ thể, có thể hình dung nhanh những thay đổi cốt lõi qua bảng tổng hợp sau. Bảng này tách bạch ba nhóm: quy định hoàn toàn mới, quy định được sửa đổi bổ sung, và quy định đã bị loại bỏ so với hệ thống văn bản cũ.

Nhóm thay đổi Nội dung tiêu biểu
Hoàn toàn mới Quyền yêu cầu sàn TMĐT cung cấp thông tin người mua; trách nhiệm của bên được ủy nhiệm lập hóa đơn; cơ chế khen thưởng tố giác; trách nhiệm người mua trong xác định nghĩa vụ thuế người bán
Sửa đổi, bổ sung Định nghĩa hóa đơn điện tử từ máy tính tiền; mở rộng đối tượng dùng hóa đơn không mã; hóa đơn thương mại điện tử; thời điểm lập hóa đơn xuất khẩu và casino; số định danh cá nhân bắt buộc; hạn dùng biên lai giấy
Bị gỡ bỏ Hóa đơn đặt in của cơ quan thuế; điều khoản riêng về hành vi bị cấm trong lĩnh vực hóa đơn

Nhìn vào bảng trên, có thể thấy tư duy xuyên suốt của Nghị định 254/2026/NĐ-CP là siết chặt việc giám sát dòng tiền qua dữ liệu điện tử, đồng thời trao thêm công cụ cho cả cơ quan thuế lẫn người tiêu dùng để phát hiện hành vi trốn xuất hóa đơn.

Những quy định hoàn toàn mới

Đây là nhóm nội dung chưa từng xuất hiện trong bất kỳ văn bản nào trước đó, phản ánh rõ nhất định hướng quản lý thuế trong giai đoạn tới.

Quyền yêu cầu sàn thương mại điện tử cung cấp thông tin người mua

Theo điểm c khoản 1 Điều 17, người bán hàng trên các nền tảng thương mại điện tử được quyền yêu cầu chủ quản sàn cung cấp thông tin người mua, thông tin giao dịch, thời điểm giao hàng và xác nhận trạng thái đơn hàng để phục vụ việc lập hóa đơn. Trong thực tế vận hành, nhiều người bán trên sàn từng gặp khó khi khách đặt hàng nhưng không để lại đầy đủ thông tin xuất hóa đơn, dẫn đến chậm trễ hoặc phải bỏ qua nghĩa vụ này. Quy định mới giúp lấp khoảng trống đó, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu ngược lại: người bán phải chủ động lập hóa đơn ngay khi có đủ dữ liệu, không còn lý do để trì hoãn vì thiếu thông tin từ phía sàn.

Trách nhiệm cụ thể của tổ chức được ủy nhiệm lập hóa đơn

Điều 19 dành hẳn một điều khoản riêng để liệt kê bảy trách nhiệm của bên được ủy nhiệm lập hóa đơn, bao gồm phản ánh đúng bản chất nghiệp vụ phát sinh, gửi dữ liệu hóa đơn cho cơ quan thuế đúng hạn, lưu trữ và bảo mật thông tin, cũng như phối hợp xử lý khi có sai sót. Trong quá trình tư vấn cho khách hàng chuyển đổi hệ thống hóa đơn, đội ngũ tại MAN – Master Accountant Network nhận thấy đây chính là điểm nhiều doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ lập hóa đơn dễ bỏ sót nhất: hợp đồng ủy nhiệm thường chỉ nói chung chung về nghĩa vụ mà không phân định rõ ai chịu trách nhiệm khi hóa đơn bị lập sai. Với quy định chi tiết lần này, hợp đồng ủy nhiệm giữa hai bên cần được rà soát lại để khớp với bảy đầu mục trách nhiệm đã nêu, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi cơ quan thuế thanh tra.

Cơ chế khen thưởng người tiêu dùng tố giác

Đây có lẽ là điểm gây chú ý nhiều nhất trong đợt ban hành lần này. Điều 41 quy định người tiêu dùng cung cấp thông tin trung thực, chính xác, có căn cứ và giúp cơ quan thuế ra quyết định xử phạt sẽ được khen thưởng không quá 10% số tiền xử phạt, tối đa 10.000.000 đồng cho mỗi vụ việc. Thông tin tố giác cần nêu rõ danh tính người bán, nội dung giao dịch và hành vi vi phạm cụ thể, có thể gửi qua hệ thống hóa đơn điện tử, Cổng dịch vụ công quốc gia, email hoặc nộp trực tiếp tại cơ quan thuế.

Về mặt vận hành, cơ chế này buộc các cửa hàng bán lẻ, quán ăn, dịch vụ tiêu dùng trực tiếp phải nghiêm túc hơn trong việc xuất hóa đơn ngay tại điểm bán, bởi rủi ro bị khách hàng tố giác giờ đây đi kèm động lực tài chính cụ thể chứ không còn mang tính lý thuyết. Hình dung một tình huống đơn giản: khách hàng thanh toán tại một quán ăn nhưng không được xuất hóa đơn dù đã yêu cầu, sau đó gửi thông tin giao dịch kèm hình ảnh hóa đơn tạm tính qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Nếu cơ quan thuế xác minh và ra quyết định xử phạt, người tố giác có thể nhận khoản thưởng tương ứng, một cơ chế trước đây chưa từng tồn tại trong hệ thống pháp luật về hóa đơn.

Trách nhiệm của người mua trong xác định nghĩa vụ thuế của người bán

Khoản 2 Điều 18 khẳng định việc người mua yêu cầu và nhận hóa đơn là cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế của người bán. Về câu chữ, đây là một quy định mang tính nguyên tắc hơn là thủ tục, nhưng ý nghĩa thực tế lại không nhỏ: nó tạo hành lang pháp lý để cơ quan thuế đối chiếu chéo giữa hồ sơ khai thuế của người bán với dữ liệu hóa đơn mà người mua đã yêu cầu, từ đó phát hiện chênh lệch doanh thu dễ dàng hơn trước.

Những thay đổi so với quy định cũ

Những quy định bị gỡ bỏ trong Nghị định 254/2026/NĐ-CP
Những quy định bị gỡ bỏ trong Nghị định 254/2026/NĐ-CP

Bên cạnh các quy định hoàn toàn mới, Nghị định 254/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh đáng kể một loạt nội dung đã tồn tại từ Nghị định 123/2020/NĐ-CP, khiến chúng rõ ràng và chặt chẽ hơn. Bảng dưới đây tổng hợp sáu điểm điều chỉnh đáng chú ý nhất, đối chiếu trực tiếp giữa cách quy định cũ và cách quy định mới để dễ hình dung sự khác biệt.

Tiêu chí Quy định cũ Quy định mới
Hóa đơn điện tử từ máy tính tiền Chỉ giới hạn ở hóa đơn có mã của cơ quan thuế hoặc dữ liệu điện tử để tra cứu Có thể là hóa đơn có mã, không có mã hoặc chỉ là dữ liệu điện tử, tùy đặc thù kinh doanh (Khoản 3 Điều 3)
Lĩnh vực dùng hóa đơn không mã Các ngành truyền thống như điện lực, xăng dầu, viễn thông, tài chính ngân hàng Mở rộng thêm tài sản mã hóa và dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon (điểm b khoản 1 Điều 6)
Hóa đơn thương mại điện tử Mới được bổ sung như một loại hình, chưa nêu rõ điều kiện Là loại hóa đơn chính thức, yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng điều kiện chuyển dữ liệu điện tử đến cơ quan thuế (Khoản 3 Điều 8)
Thời điểm lập hóa đơn xuất khẩu Không quy định cụ thể thời hạn sau thông quan Chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan (Khoản 1 Điều 9)
Số định danh cá nhân trên hóa đơn Chưa bắt buộc, chỉ yêu cầu mã số thuế với cơ sở kinh doanh Bổ sung là nội dung bắt buộc đối với người mua (điểm d khoản 1 Điều 10)
Xử lý chuyển tiếp biên lai giấy Dùng đến khi có thông báo của cơ quan thuế, không nêu mốc cụ thể Dùng đến hết 31/12/2026, phải tiêu hủy từ 1/1/2027 (Khoản 2 Điều 44)

Nhìn vào bảng so sánh, có thể thấy điểm chung của các thay đổi là thay thế những quy định mơ hồ, thiếu mốc thời gian cụ thể bằng các điều kiện và thời hạn rõ ràng, dễ đối chiếu hơn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan thuế. Một vài nội dung trong số này cần được diễn giải kỹ hơn để tránh áp dụng sai.

Với hóa đơn thương mại điện tử, doanh nghiệp xuất khẩu cần chủ động đánh giá lại hạ tầng công nghệ thông tin của mình. Nếu chưa đủ điều kiện chuyển dữ liệu điện tử đến cơ quan thuế, đơn vị buộc phải quay về sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng thông thường, thay vì mặc định áp dụng loại hóa đơn mới ngay từ đầu.

Ngoài mốc thời điểm lập hóa đơn xuất khẩu, quy định về casino cũng có một điều chỉnh đáng chú ý: điểm q khoản 4 Điều 9 dời khung giờ xác định doanh thu trong ngày sang 6 giờ sáng đến 5 giờ 59 phút sáng hôm sau, thay cho mốc 0 giờ đến 23 giờ 59 phút theo quy định cũ. Thay đổi tưởng chừng nhỏ này thực chất ảnh hưởng trực tiếp đến cách các đơn vị kinh doanh casino tổng hợp doanh thu theo ca làm việc thực tế, vốn thường không trùng khớp với mốc nửa đêm theo lịch dương.

Với những giao dịch bán lẻ có giá trị lớn cho cá nhân không kinh doanh, kế toán cần bổ sung quy trình thu thập số định danh cá nhân ngay từ khâu lập đơn hàng, tránh phải liên hệ lại khách hàng để bổ sung sau khi hóa đơn đã phát hành. Còn với biên lai giấy, mốc thời gian cụ thể lần này buộc các đơn vị còn tồn phải lên kế hoạch tiêu hủy ngay trong nửa cuối năm 2026 thay vì chờ đợi thêm hướng dẫn như trước.

Những quy định bị gỡ bỏ

Song song với các điểm mới và điểm sửa đổi, Nghị định 254/2026/NĐ-CP cũng loại bỏ hẳn hai nội dung từng tồn tại nhiều năm, cho thấy sự dứt khoát trong định hướng chuyển đổi số của cơ quan quản lý.

Hóa đơn đặt in của cơ quan thuế hết giá trị sử dụng

Nghị định 123/2020/NĐ-CP từng dành riêng Mục 3 Chương II, từ Điều 23 đến Điều 29, để quy định việc Cục Thuế đặt in hóa đơn giấy bán cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh chưa đủ điều kiện công nghệ thông tin. Khoản 3 Điều 44 của nghị định mới nêu rõ: kể từ ngày nghị định có hiệu lực thi hành, hóa đơn đặt in của cơ quan thuế hết giá trị sử dụng và phải thực hiện tiêu hủy. Việc dứt điểm loại hóa đơn này đồng nghĩa không còn “cửa lùi” nào cho các đơn vị vẫn đang phụ thuộc vào hóa đơn giấy do cơ quan thuế cung cấp, dù trước đây đây từng là lựa chọn phổ biến với hộ kinh doanh nhỏ ở vùng khó tiếp cận công nghệ.

Bỏ điều khoản riêng về hành vi bị cấm

Điều 5 Nghị định 123/2020/NĐ-CP từng liệt kê riêng các hành vi bị cấm trong lĩnh vực hóa đơn, chứng từ, áp dụng cho cả công chức thuế lẫn tổ chức, cá nhân. Nghị định 254/2026/NĐ-CP không còn giữ điều khoản chuyên biệt này, các hành vi vi phạm sẽ được xử lý theo quy định chung của pháp luật quản lý thuế và pháp luật phòng chống tham nhũng. Về bản chất, đây là sự tinh gọn văn bản hơn là nới lỏng chế tài, bởi các hành vi vi phạm vẫn bị xử lý, chỉ là không còn được quy định lặp lại trong một nghị định chuyên ngành về hóa đơn.

Đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP

Sau khi đã nắm được các nhóm thay đổi và những quy định bị loại bỏ, phần quan trọng tiếp theo là xác định chính doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh của mình thuộc nhóm đối tượng áp dụng nào theo Điều 6. Điều khoản này phân chia đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử thành ba nhóm chính, mỗi nhóm gắn với một loại hóa đơn khác nhau tùy vào đặc thù ngành nghề và rủi ro thuế.

Hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế

Nhóm mặc định áp dụng cho phần lớn tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cùng các trường hợp được xác định là rủi ro cao về thuế theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đây vẫn là loại hóa đơn phổ biến nhất trên thị trường vì có sự xác thực trực tiếp từ cơ quan thuế trước khi phát hành cho khách hàng.

Hóa đơn điện tử không mã của cơ quan thuế

Áp dụng cho doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực điện lực, xăng dầu, bưu chính viễn thông, nước sạch, tài chính ngân hàng, chứng khoán, tài sản mã hóa, dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon, bảo hiểm, y tế, thương mại điện tử, siêu thị, vận tải, với điều kiện đã có hạ tầng công nghệ thông tin và phần mềm kế toán đáp ứng yêu cầu truyền dữ liệu hóa đơn đến cả người mua và cơ quan thuế.

Hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền

Dành cho tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng như trung tâm thương mại, siêu thị, bán lẻ, ăn uống, nhà hàng, khách sạn, vận tải hành khách hoặc dịch vụ giải trí. Nếu đơn vị đã đăng ký dùng hóa đơn có mã hoặc không mã theo hai nhóm trên, thì không bắt buộc phải đăng ký thêm hóa đơn từ máy tính tiền.

Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng

Đây là ngưỡng doanh thu quan trọng cần lưu ý: hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng, hoặc có hoạt động bán tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Với những hộ kinh doanh đang ở ngưỡng doanh thu cận kề mốc này, việc chủ động đăng ký sớm sẽ tránh được tình huống bị truy thu hoặc xử phạt do phát sinh nghĩa vụ mà chưa kịp chuẩn bị hệ thống.

Để tiện tra cứu nhanh, có thể tóm tắt ba loại hóa đơn điện tử và đối tượng áp dụng tương ứng qua bảng sau.

Loại hóa đơn điện tử Đối tượng áp dụng chính
Có mã của cơ quan thuế Phần lớn tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và trường hợp rủi ro cao về thuế
Không mã của cơ quan thuế Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực điện lực, xăng dầu, viễn thông, tài chính ngân hàng, tài sản mã hóa, sàn giao dịch các-bon, bảo hiểm, y tế, thương mại điện tử, siêu thị, vận tải, đã đủ hạ tầng công nghệ thông tin
Khởi tạo từ máy tính tiền Tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán trực tiếp đến người tiêu dùng như trung tâm thương mại, siêu thị, bán lẻ, ăn uống, khách sạn, vận tải hành khách

Trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử

Không phải mọi giao dịch phát sinh doanh thu đều bắt buộc xuất hóa đơn điện tử. Điều 7 tập hợp các trường hợp ngoại lệ vào một điều khoản riêng, thay vì nằm rải rác như trước, giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh dễ tra cứu hơn khi cần xác định nghĩa vụ của mình. Một số trường hợp tiêu biểu gồm:

  • Hộ, cá nhân kinh doanh có thu nhập từ cho thuê bất động sản, hoặc từ cung cấp nội dung số ra nước ngoài như trò chơi điện tử, phim số, nhạc số, quảng cáo số.
  • Đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán hàng đa cấp mà doanh nghiệp chủ quản đã khấu trừ thuế theo quy định.
  • Góp vốn bằng tài sản của tổ chức, cá nhân kinh doanh vào tổ chức kinh tế.
  • Tài sản điều chuyển giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hoặc khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
  • Máy móc, thiết bị cho mượn phục vụ gia công hàng hóa, không thu tiền và không chuyển quyền sở hữu.

Cần lưu ý rằng những trường hợp này không đồng nghĩa với miễn hoàn toàn nghĩa vụ chứng từ. Phần lớn vẫn yêu cầu lập bảng kê, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ hoặc chứng từ khác để chứng minh tính hợp lệ của giao dịch khi cơ quan thuế yêu cầu đối chiếu.

Nghị định 254/2026/NĐ-CP ảnh hưởng thế nào đến từng đối tượng

Sau khi đã nắm được nội dung cốt lõi, câu hỏi thực tế mà hầu hết người đọc quan tâm là: quy định mới tác động cụ thể ra sao đến vai trò của mình.

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh

Nhóm này chịu tác động trực tiếp và toàn diện nhất, từ việc rà soát lại đối tượng áp dụng theo Điều 6, cập nhật mẫu hóa đơn để bổ sung số định danh cá nhân, đến việc lên kế hoạch tiêu hủy biên lai giấy trước hạn chót 31/12/2026. Với hộ kinh doanh có doanh thu áp sát ngưỡng 1 tỷ đồng, đây cũng là thời điểm cần chủ động đăng ký hình thức hóa đơn phù hợp thay vì chờ cơ quan thuế nhắc nhở.

Người tiêu dùng, người mua

Vai trò của người mua được nâng lên đáng kể trong nghị định lần này. Không chỉ có quyền yêu cầu hóa đơn như trước, người tiêu dùng giờ đây còn có thể trực tiếp tham gia giám sát thông qua cơ chế tố giác tại Điều 41, với phần thưởng tài chính cụ thể nếu thông tin cung cấp chính xác và dẫn đến quyết định xử phạt. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 18 cũng gián tiếp nhắc người mua rằng việc chủ động yêu cầu hóa đơn không chỉ để bảo vệ quyền lợi cá nhân khi đổi trả hàng hay bảo hành, mà còn là dữ liệu để cơ quan thuế đối chiếu nghĩa vụ của người bán, nên việc giữ lại hóa đơn sau mỗi giao dịch giá trị lớn là một thói quen đáng duy trì.

Sàn thương mại điện tử

Chủ quản sàn thương mại điện tử phát sinh trách nhiệm cung cấp thông tin người mua, thông tin giao dịch cho người bán khi có yêu cầu hợp lý. Điều này đòi hỏi các sàn phải rà soát lại chính sách bảo mật và quy trình chia sẻ dữ liệu nội bộ, đảm bảo vừa tuân thủ nghĩa vụ hỗ trợ người bán lập hóa đơn, vừa không vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trên thực tế, nhiều sàn hiện nay đã có cơ chế xuất báo cáo giao dịch định kỳ cho người bán, nhưng thông tin thời điểm giao hàng và xác nhận trạng thái đơn hàng, hai dữ liệu bắt buộc theo Điều 17, vẫn thường tách rời khỏi báo cáo doanh thu mặc định, nên các sàn cần bổ sung thêm trường dữ liệu này để tránh phát sinh khiếu nại từ người bán.

Kế toán, tổ chức được ủy nhiệm lập hóa đơn

Với các đơn vị nhận ủy nhiệm lập hóa đơn thay khách hàng, bảy trách nhiệm cụ thể tại Điều 19 là căn cứ để rà soát lại hợp đồng dịch vụ hiện hành. Trong quá trình hỗ trợ khách hàng đối chiếu hợp đồng ủy nhiệm, MAN – Master Accountant Network thường khuyến nghị bổ sung điều khoản phân định rõ trách nhiệm bồi thường khi hóa đơn bị lập sai do lỗi dữ liệu đầu vào, thay vì chỉ dựa vào nguyên tắc chung chung như trước đây.

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh cần chuẩn bị gì trước 1/7/2026

Việc chuyển đổi sang một khung pháp lý mới trong thời gian ngắn dễ khiến nhiều đơn vị bị động. Bước đầu tiên nên làm là rà soát lại nhóm đối tượng áp dụng của mình theo Điều 6, xác định xem đang thuộc diện dùng hóa đơn có mã, không mã, hay hóa đơn từ máy tính tiền, từ đó kiểm tra phần mềm kế toán hiện tại có đáp ứng được yêu cầu truyền dữ liệu hay không.

Bước tiếp theo là cập nhật mẫu hóa đơn để bổ sung trường số định danh cá nhân, đồng thời lên danh sách toàn bộ biên lai giấy còn tồn để lập kế hoạch tiêu hủy trước ngày 31/12/2026, tránh dồn vào phút chót gây khó khăn cho khâu kiểm kê. Với doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, cần đối chiếu lại điều kiện kỹ thuật để xác định có đủ tiêu chuẩn áp dụng hóa đơn thương mại điện tử hay vẫn phải dùng hóa đơn giá trị gia tăng thông thường.

Cuối cùng, nếu doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ ủy nhiệm lập hóa đơn từ bên thứ ba, đây là thời điểm phù hợp để yêu cầu đối tác cung cấp bằng chứng tuân thủ bảy trách nhiệm theo Điều 19, thay vì chỉ tin tưởng dựa trên quan hệ hợp tác lâu năm. Kinh nghiệm triển khai thực tế cho thấy phần lớn sai sót về hóa đơn không đến từ ý định gian lận, mà từ việc doanh nghiệp không cập nhật kịp quy trình nội bộ theo văn bản mới, dẫn đến sai lệch giữa thực tế vận hành và yêu cầu pháp lý.

Kết luận

Nghị định 254/2026/NĐ-CP không chỉ đơn thuần hợp nhất các văn bản cũ mà còn tạo ra một hệ sinh thái giám sát hóa đơn chặt chẽ hơn, với sự tham gia trực tiếp của người tiêu dùng, sàn thương mại điện tử và các tổ chức trung gian. Với doanh nghiệp và hộ kinh doanh, điều quan trọng nhất trong giai đoạn chuyển tiếp là xác định đúng nhóm đối tượng áp dụng theo Điều 6, xử lý dứt điểm biên lai giấy trước hạn 31/12/2026, và rà soát lại các hợp đồng ủy nhiệm lập hóa đơn để tránh rủi ro pháp lý phát sinh ngoài dự kiến. Chuẩn bị sớm ngay từ bây giờ sẽ giúp quá trình chuyển đổi diễn ra suôn sẻ hơn nhiều so với việc chờ đến sát thời điểm áp dụng mới bắt đầu rà soát.

Thông tin liên hệ dịch vụ tại MAN – Master Accountant Network

Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network, Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Tài chính doanh nghiệp.

MAN – Master Accountant Network cam kết cung cấp thông tin chuyên môn minh bạch, cập nhật theo quy định pháp luật hiện hành và tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán – thuế.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tracking khác như Google Analytics... để cải thiện trải nghiệm duyệt web của bạn.