Luật số 11/2026/QH16 ngày 23/8/2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 54/2014/QH13, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan. Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, với nhiều quy định mới về kiểm tra, giám sát hàng hóa qua nền tảng thương mại điện tử, quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, hồ sơ hải quan, khai bổ sung, kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và kiểm tra sau thông quan.
Luật số 11/2026/QH16 có những điểm mới đáng chú ý nào?
Luật số 11/2026/QH16 tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý hải quan theo hướng tăng cường sử dụng dữ liệu điện tử, quản lý dựa trên mức độ tuân thủ và rủi ro, đồng thời bổ sung quy định phù hợp với hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới.
Các nhóm thay đổi đáng chú ý có thể khái quát như sau:
| Nhóm nội dung | Điểm đáng chú ý |
| Thương mại điện tử | Bổ sung Điều 16a về kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử |
| Quản lý tuân thủ | Bổ sung Điều 17a; người khai hải quan tuân thủ pháp luật được xem xét ưu tiên trong một số hoạt động nghiệp vụ |
| Hồ sơ hải quan | Quy định rõ chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu hoặc chứng từ giấy và yêu cầu đối với dữ liệu điện tử |
| Kho và địa điểm chịu giám sát | Điều chỉnh quy định về kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế |
| Sở hữu trí tuệ | Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và tạm dừng làm thủ tục hải quan |
| Kiểm tra sau thông quan | Làm rõ phạm vi kiểm tra hồ sơ, chứng từ, dữ liệu và hàng hóa sau thông quan |
| Trị giá hải quan | Sửa đổi quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu |
Luật số 11/2026/QH16 bổ sung quy định về thương mại điện tử xuyên biên giới
Luật số 11/2026/QH16 bổ sung Điều 16a về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử phải làm thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.
Quy định mới đồng thời xác định trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới. Theo đó, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam khi mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải thực hiện định danh, xác thực điện tử.
Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm kết nối với hệ thống xử lý dữ liệu về thương mại điện tử của cơ quan hải quan khi thực hiện định danh, xác thực điện tử. Bên cạnh đó, các chủ thể sau có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa cho cơ quan hải quan:
- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử;
- Doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan;
- Doanh nghiệp vận chuyển hoặc đại lý của doanh nghiệp vận chuyển;
- Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử.
Việc bổ sung Điều 16a tạo cơ sở pháp lý riêng cho hoạt động quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, thay vì chỉ áp dụng các quy định chung về thủ tục hải quan.
Luật số 11/2026/QH16 tăng cường quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ

Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi Điều 17 về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan và bổ sung Điều 17a về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan.
Theo quy định mới, cơ quan hải quan thực hiện quản lý rủi ro thông qua việc thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu hải quan; phân tích, đối soát, kiểm tra thông tin, dữ liệu hồ sơ hải quan; xây dựng hồ sơ rủi ro, hồ sơ trọng điểm; xác định trọng điểm và áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan phù hợp với mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ pháp luật.
Luật số 11/2026/QH16 cũng ghi nhận việc cơ quan hải quan quản lý hệ thống thông tin nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ.
Đáng chú ý, người khai hải quan tuân thủ pháp luật được xem xét ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan, miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các hoạt động nghiệp vụ khác đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Doanh nghiệp có thể tham khảo thêm nội dung về thủ tục hải quan để rà soát quy trình khai báo và chuẩn bị hồ sơ phù hợp với hoạt động thực tế.
Hồ sơ hải quan và thời hạn nộp hồ sơ được quy định rõ hơn
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi Điều 24 và Điều 25 của Luật Hải quan về hồ sơ và thời hạn nộp hồ sơ hải quan.
Hồ sơ hải quan gồm tờ khai hải quan hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan và các chứng từ có liên quan. Tùy từng trường hợp, người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa, hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu và các chứng từ liên quan theo quy định.
Luật số 11/2026/QH16 quy định tờ khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan có thể là chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu hoặc chứng từ giấy. Chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Về thời hạn, doanh nghiệp cần lưu ý các mốc chính sau:
- Đối với hàng hóa xuất khẩu, hồ sơ hải quan được nộp sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất 4 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
- Đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh, hồ sơ được nộp chậm nhất 2 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
- Đối với hàng hóa nhập khẩu, hồ sơ được nộp trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu.
Các mốc thời hạn trên có ý nghĩa trực tiếp đối với việc tổ chức chứng từ và kế hoạch thông quan. Doanh nghiệp nên chuẩn hóa bộ hồ sơ ngay từ khâu giao dịch để hạn chế việc bổ sung, điều chỉnh vào thời điểm sát hạn.
Luật số 11/2026/QH16 điều chỉnh quy định về khai bổ sung
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi khoản 4 Điều 29 về khai bổ sung hồ sơ hải quan. Đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan, người khai hải quan được thực hiện khai bổ sung trước thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra hải quan.
Đối với hàng hóa đã được thông quan, người khai hải quan được khai bổ sung trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan và trước thời điểm quyết định dừng đưa hàng qua khu vực giám sát, kiểm tra sau thông quan, thanh tra, kiểm tra đối với hàng hóa đã thông quan, trừ các trường hợp được quy định riêng.
Quy định này khiến việc rà soát dữ liệu khai báo, chứng từ thương mại và hồ sơ thuế trở thành một bước quan trọng trong kiểm soát rủi ro của doanh nghiệp.
Quy định mới về kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và hàng miễn thuế
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi các quy định về hàng hóa gửi tại kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và hàng hóa bán tại địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế.
Theo quy định mới, hàng hóa gửi tại kho ngoại quan được lưu giữ trong thời gian không quá 24 tháng kể từ ngày được gửi vào kho. Hàng hóa được lưu giữ tại địa điểm thu gom hàng lẻ trong thời gian không quá 180 ngày kể từ ngày được đưa vào địa điểm này. Hàng hóa bán tại địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế được lưu giữ trong thời gian không quá 24 tháng kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan.
Quyền của chủ hàng hóa cũng được quy định theo từng loại địa điểm. Cụ thể:
- Tại kho ngoại quan, chủ hàng hóa được gia cố bao bì, phân loại, lấy mẫu và thực hiện các công việc khác dưới sự giám sát của cơ quan hải quan; đồng thời được chuyển quyền sở hữu hàng hóa.
- Tại địa điểm thu gom hàng lẻ, chủ hàng hóa được chuyển quyền sở hữu, đóng gói, đóng gói lại, gia cố, sửa chữa và bảo quản hàng hóa.
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ được chia tách, đóng ghép các lô hàng của nhiều chủ hàng hóa vận chuyển chung trong một công-te-nơ và sắp xếp, sắp xếp lại hàng hóa lưu giữ.
- Doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế được vận chuyển hàng hóa giữa các địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế của doanh nghiệp và phải bảo đảm việc bán hàng miễn thuế đúng đối tượng, định lượng theo quy định.
Luật số 11/2026/QH16 cũng yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ và doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế thực hiện chế độ kế toán, thống kê, trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật quản lý hàng hóa bằng phương thức điện tử và kết nối với cơ quan hải quan để phục vụ kiểm tra, giám sát hải quan.
Luật số 11/2026/QH16 hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi Điều 73 và Điều 74 về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trực tiếp hoặc thông qua người được ủy quyền hợp pháp có thể nộp hồ sơ đề nghị kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Hải quan khu vực nơi thuận tiện.
Thời hạn áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát là 2 năm kể từ ngày Hải quan khu vực chấp nhận đề nghị và có thể được gia hạn thêm 2 năm nhưng không quá thời hạn bảo hộ đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Luật số 11/2026/QH16 cũng quy định cơ quan hải quan có thể chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan nếu trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.
Luật số 11/2026/QH16 làm rõ kiểm tra sau thông quan
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi Điều 77 về kiểm tra sau thông quan.
Theo quy định mới, kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; đồng thời có thể kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực của nội dung chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình; đồng thời đánh giá và nâng cao việc tuân thủ pháp luật về hải quan và các quy định liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.
Vì vậy, doanh nghiệp cần duy trì hệ thống lưu trữ hồ sơ, chứng từ kế toán và dữ liệu liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng có thể đối chiếu khi cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra.
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu
Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi khoản 2 Điều 86 của Luật Hải quan về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu. Theo quy định mới, trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá thực tế của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất khẩu, không bao gồm chi phí vận tải quốc tế và chi phí bảo hiểm quốc tế.
Doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý quy định này khi xác định và khai báo trị giá hải quan. Việc quản lý thống nhất giữa hợp đồng, hóa đơn, chứng từ giao dịch và dữ liệu khai báo giúp hạn chế sai lệch trong quá trình kiểm tra.
Doanh nghiệp có thể tham khảo thêm cách tính thuế xuất nhập khẩu để rà soát các nội dung liên quan đến trị giá và nghĩa vụ thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Luật số 11/2026/QH16 quy định những nội dung chuyển tiếp nào?
Bên cạnh các quy định sửa đổi, Luật số 11/2026/QH16 có điều khoản chuyển tiếp để xử lý các trường hợp đã phát sinh trước thời điểm Luật có hiệu lực.
Các trường hợp đáng chú ý gồm:
- Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã nhập kho bảo thuế còn tồn sau thời điểm Luật có hiệu lực được thực hiện theo Mục 5 Chương III của Luật Hải quan số 54/2014/QH13 trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực.
- Hàng hóa đang lưu giữ trong kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, cửa hàng miễn thuế hoặc kho của doanh nghiệp bán hàng miễn thuế nhưng chưa thực hiện thủ tục gia hạn thời hạn lưu giữ trước ngày Luật có hiệu lực thì thời hạn lưu giữ được thực hiện theo quy định mới và tính từ các mốc thời gian tương ứng được Luật quy định.
- Trường hợp kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đang được thực hiện trước ngày Luật có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13.
- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra sau thông quan đang được thực hiện theo các quyết định đã ban hành trước ngày Luật có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13.
Doanh nghiệp đang có hàng hóa, hồ sơ hoặc thủ tục thuộc các trường hợp trên cần rà soát thời điểm phát sinh và tình trạng xử lý để xác định đúng quy định chuyển tiếp.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì trước ngày 1/3/2027?
Từ các quy định mới, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu nên chủ động rà soát dữ liệu, hồ sơ và quy trình nghiệp vụ trước khi Luật số 11/2026/QH16 có hiệu lực.
Các nhóm công việc nên được ưu tiên gồm:
- Rà soát quy trình khai báo và hồ sơ hải quan, đặc biệt đối với chứng từ điện tử.
- Kiểm tra dữ liệu hàng hóa và thông tin cung cấp cho cơ quan hải quan đối với hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Rà soát các trường hợp có thể phát sinh khai bổ sung và kiểm soát thời hạn khai bổ sung.
- Kiểm tra hồ sơ, dữ liệu và chứng từ phục vụ đánh giá tuân thủ, quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan.
- Rà soát hàng hóa đang lưu giữ tại kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, cửa hàng miễn thuế và kho của doanh nghiệp bán hàng miễn thuế để xác định quy định chuyển tiếp.
- Đối chiếu trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu với chứng từ giao dịch và dữ liệu khai báo.
Đối với doanh nghiệp có tần suất xuất nhập khẩu lớn hoặc có nhiều loại hình hàng hóa, việc chuẩn hóa hồ sơ và dữ liệu từ trước thời điểm Luật có hiệu lực sẽ giúp giảm rủi ro khi cơ quan hải quan tăng cường quản lý dựa trên tuân thủ và rủi ro.
MAN – Master Accountant Network có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong việc rà soát hồ sơ và thực hiện dịch vụ khai thuế hải quan phù hợp với nhu cầu thực tế.
Luật số 11/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày nào?
Luật số 11/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23/8/2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
Luật số 11/2026/QH16 tạo thêm cơ sở pháp lý cho quản lý hải quan đối với thương mại điện tử, dữ liệu điện tử, quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro, đồng thời điều chỉnh nhiều nội dung liên quan đến hồ sơ hải quan, khai bổ sung, kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, hàng miễn thuế, sở hữu trí tuệ, kiểm tra sau thông quan và trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên chủ động rà soát các quy trình, dữ liệu và hồ sơ đang sử dụng để chuẩn bị cho thời điểm Luật số 11/2026/QH16 chính thức được áp dụng.
Nguồn: Luật số 11/2026/QH16 ngày 23/8/2026 của Quốc hội trên LuatVietnam
Chứng chỉ hành nghề: Kiểm toán viên CPA Việt Nam
Kinh nghiệm: Hơn 30 năm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán và Tư vấn Tài chính

Nội dung liên quan
Tin tức
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Kế toán - Thuế
Tin tức Báo cáo Thuế Kế toán - Thuế
Tin tức Báo cáo Thuế Kế toán - Thuế
Tin tức