Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, việc vay mượn ngân hàng là một hoạt động không còn xa lạ với doanh nghiệp. Nhưng, đã bao giờ bạn tự hỏi liệu một giao dịch vay có phải là giao dịch liên kết hay không? Và tại sao chúng lại quan trọng đến mức cần phải được quan tâm đặc biệt? Bằng việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định về giao dịch liên kết, doanh nghiệp có thể tránh được những rủi ro pháp lý và tối ưu hóa lợi ích kinh tế. Hãy cùng tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này qua bài viết dưới đây.

Giao dịch vay ngân hàng có là giao dịch liên kết không?

Theo Nghị định số 132/2020/NĐ-CP, giao dịch liên kết là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Quan hệ liên kết được xác định theo các tiêu chí về sở hữu, quản lý, kiểm soát, ảnh hưởng hoặc bảo lãnh giữa các bên.

Giao dịch vay ngân hàng có thể là giao dịch liên kết nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau:

  • Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.
  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này.

Trường hợp nào vay ngân hàng được coi là liên kết?

Trường hợp nào vay ngân hàng được coi là liên kết?

Dựa vào các điều kiện trên, ta có thể liệt kê một số trường hợp vay ngân hàng được coi là liên kết như sau:

  • Công ty A vay ngân hàng B với khoản vốn vay lớn hơn 25% vốn góp của chủ sở hữu của công ty A và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của công ty A. Trong khi đó, cổ đông lớn của ngân hàng B là người có liên quan của công ty A hoặc thành viên HĐQT, ban điều hành ngân hàng B là người có liên quan đến công ty A.
  • Công ty C vay ngân hàng D với số tiền lớn hơn 10% vốn chủ sở hữu của công ty C. Trong khi đó, chủ doanh nghiệp C là người đại diện pháp luật, điều hành, kiểm soát ngân hàng D hoặc là người thuộc trong một trong các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.
  • Công ty E cho công ty F vay tiền dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của công ty E và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với số tiền lớn hơn 25% vốn góp của chủ sở hữu của công ty F và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của công ty F. Trong khi đó, công ty E và công ty F có quan hệ sở hữu, quản lý, kiểm soát hoặc ảnh hưởng lẫn nhau.

Vay ngắn hạn có phải là giao dịch liên kết?

Vay ngắn hạn là giao dịch vay vốn có thời hạn trả nợ không quá một năm. Vay ngắn hạn có thể là giao dịch liên kết nếu thoả mãn các điều kiện đã nêu ở phần trên. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp vay ngắn hạn đều được coi là liên kết. Một số trường hợp không được coi là liên kết như sau:

  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân không thuộc trong một trong các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.
  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân không thuộc trong một trong các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP. Đây là trường hợp không được coi là có quan hệ liên kết, bởi vì cá nhân cho vay hoặc được cho vay không phải là người điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc không có mối quan hệ gia đình, hôn nhân, thân bằng, dòng họ, cha mẹ, con cái, anh chị em ruột, anh chị em kế, anh chị em dâu, anh chị em rể, ông bà, cháu nội, ngoại hoặc người đồng sống.
  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít hơn 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP. Đây cũng là trường hợp không được coi là có quan hệ liên kết, bởi vì số tiền cho vay hoặc được cho vay không đạt ngưỡng ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu.

Hậu quả khi không kê khai giao dịch liên kết

Khi doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch liên kết vay ngân hàng mà không kê khai đầy đủ và chính xác theo quy định, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những hậu quả sau:

  • Bị phạt về thuế: Theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ bị phạt từ 20% đến 30% số tiền thuế bổ sung phải nộp do không kê khai hoặc kê khai sai các thông tin liên quan đến giao dịch liên kết. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu lãi chậm nộp thuế theo quy định.
  • Bị thanh tra thuế: Theo Nghị định số 132/2020/NĐ-CP cơ quan thuế có thể tiến hành thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết để kiểm tra tính hợp lý của giá giao dịch liên kết và xác định thuế phải nộp. Quá trình thanh tra thuế sẽ tốn thời gian, công sức và chi phí của doanh nghiệp, đồng thời gây áp lực và mất lòng tin với cơ quan thuế.
  • Mất lòng tin của ngân hàng và các bên liên quan: Khi doanh nghiệp không kê khai giao dịch liên kết vay ngân hàng, doanh nghiệp sẽ bị coi là thiếu minh bạch và không tuân thủ các quy định pháp luật. Điều này sẽ làm giảm uy tín và niềm tin của ngân hàng và các bên liên quan đối với doanh nghiệp, ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác và kinh doanh.

Ví dụ: Công ty G là công ty con của công ty H. Công ty G vay ngân hàng I với số tiền lớn hơn 25% vốn góp của chủ sở hữu của công ty G và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của công ty G. Trong khi đó, cổ đông lớn của ngân hàng I là người có liên quan của công ty H hoặc thành viên HĐQT, ban điều hành ngân hàng I là người có liên quan đến công ty H. Đây là trường hợp giao dịch liên kết vay ngân hàng theo điều kiện thứ nhất đã nêu ở phần trên. Nếu công ty G không kê khai giao dịch này, công ty G sẽ bị phạt về thuế, bị thanh tra thuế và mất lòng tin của ngân hàng I và công ty H.

Quy trình kê khai giao dịch liên kết vay ngân hàng

Để kê khai giao dịch liên kết vay ngân hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các bước sau:

  • Xác định mối quan hệ liên kết: Doanh nghiệp cần xem xét các tiêu chí về sở hữu, quản lý, kiểm soát, ảnh hưởng hoặc bảo lãnh giữa các bên để xác định có quan hệ liên kết hay không.
  • Xác định các khoản vay liên kết: Doanh nghiệp cần xem xét các điều kiện để xác định các khoản vay ngân hàng có phải là giao dịch liên kết hay không.
  • Kê khai vào hồ sơ quyết toán thuế TNDN: Doanh nghiệp cần kê khai các thông tin về giao dịch liên kết vay ngân hàng vào mẫu số 01/GDNN-KK theo Thông tư số 68/2019/TT-BTC. Doanh nghiệp cần cung cấp các thông tin như tên, mã số thuế, địa chỉ của bên liên kết; loại giao dịch; giá trị giao dịch; phương pháp xác định giá; giá tham chiếu; chênh lệch giá; lý do chênh lệch giá. Các thông tin này phải được kê khai đầy đủ, chính xác và có cơ sở minh bạch.

Kết luận

Giao dịch liên kết vay ngân hàng là một loại giao dịch phát sinh giữa doanh nghiệp và ngân hàng có quan hệ liên kết theo các tiêu chí và điều kiện được quy định tại Nghị định số 132/2020/NĐ-CP. Giao dịch này có ảnh hưởng đến việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp và cần được kê khai theo quy trình và mẫu số quy định tại Thông tư số 68/2019/TT-BTC. Nếu doanh nghiệp không kê khai hoặc kê khai sai giao dịch liên kết vay ngân hàng, doanh nghiệp sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý và thuế nghiêm trọng. Do đó, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định về giao dịch liên kết vay ngân hàng để tránh rủi ro và thực hiện nghĩa vụ thuế một cách hợp lý.

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tracking khác như Google Analytics... để cải thiện trải nghiệm duyệt web của bạn.