Người nước ngoài đến Việt Nam làm việc mặc dù được áp dụng chung biểu thuế lũy tiến, giảm trừ gia cảnh, người phụ thuộc như đối với người Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn có một số khác biệt cần biết như sau:

Đã về nước vẫn có thể được hoàn thuế TNCN

Sau khi đã về nước, vẫn có thể được hoàn số thuế nộp thừa tại Việt Nam bằng cách lập Giấy ủy quyền hoàn thuế cho Công ty từng làm việc, trong đó ghi rõ về việc ủy quyền làm thủ tục quyết toán, hoàn thuế và nhận thay tiền hoàn thuế.

Tuy nhiên, giấy này phải hợp pháp hóa lãnh sự.

Về phía Công ty nhận ủy quyền, khi làm thủ tục hoàn thuế phải nộp kèm bản cam kết sẽ chuyển trả đầy đủ cho người ủy quyền.

(Công văn số 2848/TCT-TNCN ngày 20/7/2018)

Nhận lương từ nhiều nơi phải tự quyết toán

Nếu có thu nhập từ ít nhất 2 nơi hoặc từ 2 nguồn (trong nước và nước ngoài), người nước ngoài sẽ phải tự quyết toán thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập và kê khai theo mẫu số 02/QTT-TNCN ban hành tại Thông tư 92/2015/TT-BTC.

(Công văn số 6344/CT-TTHT ngày 29/6/2018)

“Tiền nhà” trong lương Gross vẫn phải gross up

Những người nhận lương Net, nếu được “tài trợ” tiền thuê nhà thì khoản này sẽ phải gross-up khi tính thuế TNCN.

Nhưng, ngay cả khi nhận lương Gross, tức lương đã bao gồm thuế, nhưng khoản tiền nhà được trả theo Net, tức Công ty nộp thay thuế TNCN cho chủ nhà khi thuê nhà, thì khi tính thuế đối với 15% khoản tiền này vẫn phải gross-up

(Công văn số 2429/TCT-TNCN ngày 19/6/2018)

Thuế suất 20% không phân biệt nơi chi trả

Người nước ngoài nếu chưa được xem là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì toàn bộ thu nhập nhận được đều phải chịu mức thuế 20% (khoản 1 Điều 28 Thông tư 111/2013/TT-BTC), không phân biệt thu nhập đó phát sinh tại Việt Nam hay ở nước ngoài, cũng không phân biệt khoản thu nhập đó do phía Việt Nam hay bên nước ngoài chi trả.

(Công văn số 30968/CT-TTHT ngày 16/5/2017)

Làm việc cho dự án ODA được miễn thuế TNCN

Các chuyên gia là người nước ngoài nếu tham gia làm việc tại các dự án ODA tại Việt Nam sẽ được miễn thuế TNCN. Tuy nhiên, phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg.

Thu nhập được miễn thuế là thu nhập phát sinh từ thực hiện dự án ODA tại Việt Nam, bao gồm cả khoản phụ cấp từ dự án để đảm bảo thu nhập theo mặt bằng thông lệ quốc tế.

Thủ tục xét miễn thuế TNCN cho chuyên gia nước ngoài của dự án ODA thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 12/2010/TTLT-BKHĐT-BTC.

(Công văn số 1915/TCT-TNCN ngày 11/5/2017)

Làm việc từ bên ngoài Việt Nam vẫn phải chịu thuế TNCN

Một người nước ngoài, đang ở và làm việc tại công ty mẹ ở nước ngoài, được công ty mẹ trả thêm một phần lương hoặc thù lao cho công việc hoặc chức danh kiêm nhiệm trong một công ty con tại Việt Nam thì khoản lương/thù lao đó sẽ phải khai nộp chịu thuế TNCN, bất kể ông ấy chưa từng đến Việt Nam.

Khoản thu nhập chịu thuế tại Việt Nam trong trường hợp trên được xác định theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 111/2013/TT-BTC như sau: “… thu nhập phát sinh tại Việt Nam của cá nhân không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài dựa trên cơ sở số ngày có mặt tại Việt Nam hoặc số ngày làm việc cho công việc tại Việt Nam (đối với cá nhân không hiện diện tại Việt Nam)”

(Công văn số 1091/TCT-TNCN ngày 27/3/2017)

Thuê chuyên gia của nước ngoài, khấu trừ thuế nhà thầu hay thuế TNCN?

Theo Cục thuế TP. HCM, trường hợp Công ty tại Việt Nam ký hợp đồng với các Công ty trong cùng tập đoàn ở nước ngoài để thuê chuyên gia sang Việt Nam làm việc, những chuyên gia này ký hợp đồng lao động với phía nước ngoài và do phía nước ngoài trực tiếp trả lương, sau đó Bên Việt Nam thanh toán lại cho phía nước ngoài khoản chi trả này thuộc diện chịu thuế nhà thầu theo quy định của Thông tư 103/2014/TT-BTC.

Tuy nhiên, các chuyên gia này vẫn phải chịu thuế TNCN đối với khoản lương mà họ nhận được từ nước ngoài. Việc kê khai thuế trong trường hợp này được thực hiện hằng quý, theo mẫu 02/KK-TNCN, áp dụng thuế suất 20% (nếu chưa đủ điều kiện là cá nhân cư trú) và không phải quyết toán thuế.

Công ty Việt Nam có thể thay mặt chuyên gia nước ngoài nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế nhưng các chuyên gia này phải trực tiếp lập hồ sơ.

(Công văn số 1024/CT-TTHT ngày 7/2/2017)

Không cư trú tại Việt Nam, toàn bộ thu nhập phải chịu thuế TNCN 20%

Trường hợp Công ty có Tổng giám đốc là người nước ngoài và không cư trú tại Việt Nam thì các khoản thu nhập chi trả cho người này gồm tiền lương, công tác phí, tiền khách sạn đều phải khấu trừ thuế TNCN với thuế suất 20% theo quy định tại Điều 18 Thông tư 111/2013/TT-BTC .

Đối với tiền lương, nếu Công ty nhờ Công ty trong cùng Tập đoàn nơi Tổng giám đốc đang làm việc chi trả hộ và sau đó Công ty thanh toán lại thì thời điểm khấu trừ thuế TNCN là thời điểm Tổng giám đốc thực nhận lương, bất kể Công ty đã thanh toán lại cho bên chi hộ hay chưa.

Riêng khoản công tác phí cho Tổng giám đốc người nước ngoài, nếu Công ty trả dưới hình thức khoán và mức chi đúng theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của Công ty thì được miễn khấu trừ thuế TNCN.

Đối với tiền thuê nhà, thuê khách sạn (bao gồm cả chi phí dịch vụ đi kèm) mà Công ty trả thay Tổng giám đốc phải chịu thuế TNCN theo số thực tế trả hộ, nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam (điểm đ khoản 2 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC).

(Công văn số 3354/CT-TTHT ngày 23/1/2017)

Kỳ quyết toán thuế TNCN đầu tiên

Đối với người nước ngoài thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN (tức tính thuế TNCN theo biểu lũy tiến), kỳ quyết toán thuế đầu tiên sẽ không căn cứ theo năm dương lịch mà được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai trở đi, kỳ tính thuế mới bắt đầu căn cứ theo năm dương lịch (điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư 111/2013/TT-BTC).

Ví dụ: Ngày đầu tiên đến Việt Nam làm việc là 1/9/2016 thì kỳ quyết toán đầu tiên sẽ tính từ 1/9/2016 đến 31/8/2017.

Giả sử người này tiếp tục làm việc thì kỳ quyết toán thứ hai sẽ tính từ 1/1/2017 đến 31/12/2017. Trong đó, số thuế đã nộp trong giai đoạn từ 1/1/2017 đến 31/8/2017 sẽ được bù trừ với số thuế phải nộp của kỳ thứ hai.

(Công văn số 10784/CT-TTHT ngày 4/11/2016)

Lương hưu nhận tại bản xứ được miễn thuế TNCN

Theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, cá nhân sinh sống, làm việc tại Việt Nam được miễn thuế đối với tiền lương hưu do nước ngoài trả.

Theo đó, khoản lương hưu mà người nước ngoài nhận được tại bản xứ cũng thuộc diện miễn tính thuế TNCN tại Việt Nam.

(Công văn số 4853/TCT-HTQT ngày 19/10/2016)

Phí làm giấy phép lao động được miễn thuế TNCN

Việc miễn thuế TNCN đối với phí làm giấy phép lao động được áp dụng trong trường hợp tại HĐLĐ ký với người nước ngoài có thỏa thuận khoản chi phí xin giấy phép lao động thuộc trách nhiệm của Công ty và hóa đơn, chứng từ thu phí cũng ghi tên của Công ty.

(Công văn số 8869/CT-TTHT ngày 14/9/2016)

Năm làm việc cuối cùng dưới 183 ngày, phải tính lại thuế TNCN theo mức 20%

Theo quy định sửa đổi tại Thông tư 92/2015/TT-BTC , năm làm việc cuối cùng của lao động nước ngoài nếu không đủ 183 ngày cư trú thì thu nhập phát sinh trong năm này phải tính theo mức thuế suất 20%.

Tuy nhiên, khi về nước, người này không phải quyết toán thuế TNCN.

(Công văn số 8861/CT-TTHT ngày 14/9/2016)

Sang Việt Nam làm việc, cho dù nhận lương ở nước ngoài vẫn phải chịu thuế TNCN

Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC, đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế TNCN là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả.

Theo đó, trường hợp chuyên gia người nước ngoài được cử sang làm việc tại Công ty là cá nhân không cư trú và nhận lương tại nước ngoài thì vẫn phải nộp thuế TNCN tại Việt Nam, áp dụng thuế suất 20%.

Thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền lương, tiền công, thù lao và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà chuyên gia nhận được trong kỳ khi làm việc tại Việt Nam.

Riêng đối với các khoản công tác phí, vé máy bay, khách sạn nếu thuộc khoản khoán chi theo quy chế nội bộ của Công ty thì được miễn tính thuế TNCN.

Chuyên gia nước ngoài phải tự kê khai nộp thuế TNCN theo quý theo mẫu 02/KK-TNCN ban hành kèm Thông tư 92/2015/TT-BTC.

(Công văn số 48774/CT-HTr ngày 22/7/2016)

Tính lại thuế TNCN theo tình trạng cư trú, nếu thừa sẽ được hoàn

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1657/TCT-TNCN ngày 20/4/2016, khi rời Việt Nam, người nước ngoài sẽ phải xác định lại tình trạng cư trú để làm căn cứ tính thuế TNCN cho năm đó.

Trường hợp người nước ngoài đang thuộc diện tính thuế TNCN theo Biểu lũy tiến do ký HĐLĐ dài hạn tại Việt Nam nhưng năm làm việc cuối cùng cư trú dưới 183 ngày thì được xác định là cá nhân không cư trú và phải tính lại thuế TNCN theo thuế suất 20% cho thu nhập phát sinh trong năm này.

Tuy nhiên, nếu việc tính lại thuế TNCN do thay đổi tình trạng cư trú dẫn đến phát sinh số thuế nộp thừa thì người nước ngoài được quyền làm hồ sơ hoàn thuế hoặc ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập xin hoàn thay.

(Công văn số 31787/CT-HTr ngày 17/5/2016)

Rời Việt Nam, người nước ngoài sẽ phải tính thuế TNCN theo tình trạng cư trú

Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người nước ngoài nếu cư trú tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm thì được xác định là cá nhân không cư trú và chịu thuế TNCN theo thuế suất 20%.

Theo đó, trường hợp người nước ngoài ký hợp đồng lao động tại Việt Nam trong nhiều năm, thuộc đối tượng cư trú và được tính thuế TNCN theo Biểu lũy tiến nhưng năm cuối cùng có mặt dưới 183 ngày thì người này được xác định là cá nhân không cư trú và năm cuối cùng phải tính thuế TNCN theo thuế suất 20%, song không phải quyết toán khi rời Việt Nam.

Tuy nhiên, trường hợp việc thay đổi tình trạng cư trú và cách tính thuế TNCN nêu trên dẫn đến số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì cá nhân người nước ngoài được quyền nộp hồ sơ yêu cầu hoàn thuế theo hướng dẫn tại Điều 53 Thông tư số 156/2013/TT-BTC, nếu đã về nước thì có thể ủy quyền cho đơn vị trả thu nhập xin hoàn thuế thay.

(Công văn số 1657/TCT-TNCN ngày 20/4/2016)

Lương, thưởng nhận sau khi về nước phải chịu thuế TNCN 20%

Công văn này chấp thuận đề xuất của Cục Thuế TP. Hà Nội tại Công văn số 81778/CT-HTrngày 22/12/2015 về việc áp dụng mức thuế suất toàn phần 20% đối với lao động nước ngoài đã chấm dứt hợp đồng lao động, trở về nước nay có phát sinh các khoản thưởng, lương tháng 13…).

Theo lý giải của Cục Thuế TP. Hà Nội thì thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN đối với tiền công, tiền lương là thời điểm chi trả, và tại thời điểm này, khi người nước ngoài đã về nước thì được xác định là đối tượng không cư trú, do đó sẽ phải áp dụng mức thuế TNCN 20% theo Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

(Công văn số 223/TCT-TNCN ngày 19/1/2016)

Từ Năm 2015, 15% tiền thuê nhà chịu thuế TNCN tính cho cả thu nhập ở nước ngoài

Theo quy định tại điểm đ.1 khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, đối với tiền thuê nhà trả hộ người lao động thì tính thuế TNCN theo số thực tế trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế tại đơn vị, tức hạn mức 15% chịu thuế TNCN chỉ tính trên thu nhập trả tại doanh nghiệp, không tính thu nhập trả tại nơi khác.

Tuy nhiên, điều khoản này đã được sửa đổi tại Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC (áp dụng từ kỳ tính thuế 2015) như sau:

“Khoản tiền thuê nhà, điện nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do đơn vị sử dụng lao động trả hộ tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn vị không phân biệt nơi trả thu nhập.”

Theo đó, từ năm 2015, hạn mức 15% chịu thuế TNCN sẽ tính trên tổng thu nhập phát sinh do người lao động làm việc tại doanh nghiệp, bao gồm cả thu nhập được chi trả từ đơn vị khác.

Ví dụ, trường hợp năm 2015, Công ty có người lao động là cá nhân nước ngoài được Công ty mẹ cử sang làm việc, đồng thời hưởng lương tại Công ty và Công ty mẹ thì khoản tiền thuê nhà do Công ty trả hộ người này phải chịu thuế TNCN theo số thực tế trả hộ và tối đa là 15% tổng thu nhập tại Công ty và Công ty mẹ.

(Công văn số 2440/CT-HTr ngày 15/1/2016)

Người nước ngoài chịu thuế TNCN từ khi làm việc hay nhập cảnh?

Theo sửa đổi Thông tư số 111/2013/TT-BTC tại Điều 2 Thông tư số 119/2014/TT-BTC, đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú có quốc tịch tại nước đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam, nghĩa vụ thuế TNCN được tính kể từ tháng đến Việt Nam.

Theo đó, trường hợp người nước ngoài đến Việt Nam nhưng sau một thời gian mới bắt đầu làm việc thì vẫn phải chịu thuế TNCN từ thời điểm nhập cảnh, tuy nhiên, Công ty chỉ cần tạm thời kê khai khấu trừ thuế TNCN của cá nhân này kể từ tháng làm việc.

Kết thúc năm, người nước ngoài mới phải tổng hợp thu nhập toàn cầu phát sinh từ tháng đến Việt Nam để khai quyết toán trực tiếp với Thuế.

(Công văn số 4215/CT-TTHT ngày 26/5/2015)

Thuế giả định và tiền nhà giả định

Đối với tiền thuế giả định, theo cách tính nêu tại Công văn số 12495/BTC-TCT ngày 6/9/2014 của Bộ Tài chính, số tiền thuế giả định mà Công ty giữ lại để nộp thay thuế TNCN cho người lao động sẽ phải cộng vào thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Sau tính toán, nếu số thuế phải nộp và số thuế giả định có chênh lệch thì tính tăng hoặc giảm thu nhập chịu thuế.

(Công văn số 12495/BTC-TCT ngày 6/9/2014)

CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ TƯ VẤN THUẾ MAN

  • Hỗ trợ tư vấn: Nguyễn Thị Kim Ngân – Director
  • Tel: 0903 428 622
  • Email: ngannguyen.pp@gmail.com

Ban biên tập: Man.net.vn

5/5 - (1 bình chọn)
Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tracking khác như Google Analytics... để cải thiện trải nghiệm duyệt web của bạn trên trang web của Man.net.vn
error: Thông báo: Nội dung được bảo vệ !!