CÁC TRƯỜNG HỢP BẮT BUỘC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT TRONG KẾ TOÁN

Theo Hiến pháp, Tiếng Việt được chọn làm ngôn ngữ quốc gia. Theo đó, các giao dịch bằng Tiếng Việt mặc nhiên được thừa nhận cho tất cả các trường hợp.

Tuy nhiên, hiện không có quy định cấm sử dụng tiếng nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp bắt buộc phải sử dụng Tiếng Việt theo liệt kê sơ bộ dưới đây.

1. Số tiền bằng chữ của ngoại tệ phải ghi bằng Tiếng Việt

Trong một số trường hợp, nếu hóa đơn được phép thu bằng ngoại tệ thì số tiền bằng chữ vẫn phải ghi bằng Tiếng Việt.

Ví dụ: nếu hóa đơn ghi thu 10,000 USD thì số tiền bằng chữ phải ghi là “Mười ngàn đô la Mỹ” thay vì “US Dollars ten thousand only”

(Căn cứ Công văn số 49444/CT-TTHT ngày 25/6/2019)

2. Sử dụng Tiếng Việt đối với Tài liệu kế toán: Loại nào được miễn dịch ra Tiếng Việt?

Quy định hiện hành yêu cầu các “chứng từ kế toán” nếu ghi bằng tiếng nước ngoài thì doanh nghiệp phải tự dịch sang Tiếng Việt.

Hóa đơn cũng là một loại chứng từ kế toán (khoản 1 Điều 20 Luật Kế toán số 88/2015/QH13) nên bắt buộc phải dịch sang Tiếng Việt. Bản dịch Tiếng Việt phải đính kèm với bản chính bằng tiếng nước ngoài.

Riêng các tài liệu kèm theo chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài như các loại hợp đồng, hồ sơ kèm theo chứng từ thanh toán, hồ sơ dự án đầu tư, báo cáo quyết toán được miễn dịch ra Tiếng Việt trừ khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (khoản 5 Điều 5 Nghị định 174/2016/NĐ-CP).

(Căn cứ Công văn số 4942/BTC-QLKT ngày 26/4/2019)

3. Sử dụng Tiếng Việt trong chứng từ: Hóa đơn công tác ở nước ngoài bắt buộc dịch ra Tiếng Việt

Hóa đơn công tác phí ở nước vẫn được phép dùng làm chứng từ hạch toán chi phí, tuy nhiên phải dịch sang Tiếng Việt (khoản 4 Điều 5 Thông tư 156/2013/TT-BTC).

Công ty có thể tự dịch, tự ký và đóng dấu và tự chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch.

(Căn cứ Công văn số 22456/CT-TTHT ngày 23/4/2018)

4. Sử dụng Tiếng Việt trong Hóa đơn thu ngoại tệ: số tiền bằng chữ vẫn phải ghi Tiếng Việt

Các hóa đơn nếu được phép thu bằng ngoại tệ thì phần số tiền bằng chữ vẫn phải ghi bằng Tiếng Việt (điểm e khoản 2 Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC).

Ví dụ: 10.000 USD thì ghi rõ là Mười nghìn đô la Mỹ.

Hiện không có một văn bản chính thức quy định cách gọi Việt hóa các đồng ngoại tệ. Nếu không chắc chắn với cách gọi Tiếng Việt về đồng ngoại tệ mà bạn đang quan tâm, hãy tham khảo trang tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

(Căn cứ Công văn số 65159/CT-TTHT ngày 2/10/2017)

5. Sử dụng Tiếng Việt trong nhãn hiệu: Ghi nhãn bằng Tiếng Việt

Tất cả các loại hàng hóa không phân biệt sản xuất trong nước hay nhập khẩu, trước khi đưa ra thị trường phải gắn nhãn và những nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa phải được ghi bằng Tiếng Việt, trừ tên quốc tế, tên khoa học của một số loại thuốc được phép ghi bằng các ngôn ngữ khác có gốc chữ cái La tinh.

Trường hợp hàng nhập khẩu có nhãn gốc ghi bằng tiếng nước ngoài thì gắn thêm nhãn phụ với nội dung hoàn toàn bằng Tiếng Việt. Vi phạm quy định về việc gắn nhãn phụ bằng Tiếng Việt sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 31 Nghị định 119/2017/NĐ-CP.

(Căn cứ Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017)

6. Sử dụng Tiếng Việt đặt tên gọi: Người Việt không được đặt tên Tây

Từ năm 2017, công dân Việt Nam chỉ được đặt tên bằng Tiếng Việt hoặc bằng tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

Quy định này hiện chưa được cụ thể hóa nên những trường hợp đặt tên Tây theo phiên âm Tiếng Việt liệu có được chấp nhận. Ví dụ: các fan hâm một danh thủ Bồ Đào Nha C. Ronaldo liệu có được đặt tên con trai theo kiểu (NGUYỄN) RÔ NAN ĐÔ? Vì trong Tiếng Việt, các từ RÔ, NAN, ĐÔ đều tồn tại và có nghĩa

(Căn cứ Khoản 3 Điều 26 Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015)

7. Sử dụng Tiếng Việt trong tên gọi: Pháp nhân phải có một tên gọi bằng Tiếng Việt

Khoản 1 Điều 78 Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 bắt buộc mỗi pháp nhân phải có một tên gọi bằng Tiếng Việt. Tên này được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Nếu pháp nhân là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thì tên gọi bằng Tiếng Việt sẽ bao gồm 2 thành tố: Loại hình doanh nghiệp + Tên riêng. Trong đó:

  • Loại hình doanh nghiệp bao gồm các lựa chọn: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh hoặc Doanh nghiệp tư nhân.
  • Tên riêng được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái Tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu.

(Căn cứ Điều 78 Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015)

8. Đường dây nóng của Bộ Công thương chỉ nghe được Tiếng Việt

Bộ Công thương sẵn sàng tiếp nhận và xử lý thông tin về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa thông qua Đường dây nóng.

Tuy nhiên, thông tin gởi đến đường dây này phải sử dụng Tiếng Việt. Điều này có nghĩa người nước ngoài nếu muốn trực tiếp phản ánh hoặc tìm hiểu thông tin về xuất nhập khẩu với Bộ Công thương phải đảm bảo… biết Tiếng Việt.

(Căn cứ Điều 6 Quyết định số 3948/QĐ-BCT ngày 30/9/2016)

9. Tranh tụng tại tòa chỉ sử dụng Tiếng Việt

Tại các phiên tòa hình sự, dân sự, và tòa hành chính, tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng đều là Tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có phiên dịch và sử dụng Tiếng Việt để bảo vệ quan điểm của mình.

(Căn cứ Điều 29 Luật số 101/2015/QH13, Điều 29 Luật số 92/2015/QH13, Điều 21 Luật số 93/2015/QH13)

10. Tiêu chuẩn nhận biết khả năng sử dụng Tiếng Việt của người nước ngoài

Hiện đã có một khung năng lực nhằm đánh giá khả năng nghe – nói – đọc – viết Tiếng Việt của người nước ngoài. Một người nước ngoài nếu đạt trình độ Sơ cấp bậc 1 (cấp độ thấp nhất, tương đương với chứng chỉ A1 theo CEFR của Châu Âu) sẽ có khả năng Tiếng Việt như sau:

Hiểu, sử dụng được các cấu trúc ngôn ngữ quen thuộc; biết sử dụng các từ ngữ cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao tiếp cụ thể: tự giới thiệu bản thân và người khác; trình bày được những thông tin về bản thân như: nơi sinh sống, người thân/bạn bè và những người khác. Có khả năng giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ.

Nếu đạt trình độ Cao cấp bậc 6 (tương đương C2), người này được cho là:

Dễ dàng hiểu hầu hết các văn bản nói và viết. Có khả năng tóm tắt được các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại và trình bày lại một cách logic; diễn đạt rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được những khác biệt tinh tế về ý nghĩa trong các tình huống phức tạp.

(Căn cứ Thông tư số 17/2015/TT-BGDĐT ngày 1/9/2015)

11. Có thể sử dụng Tiếng Việt không dấu trên hóa đơn

Do đặc thù Tiếng Việt là có dấu, trong khi một số phần mềm kế toán của nước ngoài không tích hợp khả năng đánh dấu cho các từ Tiếng Việt nên trước năm 2015, các hóa đơn nếu ghi Tiếng Việt không dấu sẽ phải đăng ký với cơ quan Thuế. Tại Công văn số 71/TCT-CS ngày 7/1/2014, Tổng cục Thuế không chấp nhận các hóa đơn có nội dung ghi Tiếng Việt không dấu nếu bên phát hành hóa đơn không có văn bản chấp thuận của cơ quan Thuế.

Từ sau ngày 1/1/2015, khoản 1 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC đã gỡ bỏ yêu cầu trên. Doanh nghiệp nếu không xử lý được việc viết Tiếng Việt có dấu thì cứ viết Tiếng Việt không dấu, miễn là đảm bảo hóa đơn không bị hiểu sai lệch về nội dung.

(Căn cứ Công văn số 2735/CT-TTHT ngày 30/3/2016)

12. Hóa đơn sử dụng chỉ được ghi bằng Tiếng Việt

Nội dung hóa đơn phải ghi bằng Tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng Tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ Tiếng Việt.

Ngay cả khi số tiền trên hóa đơn là ngoại tệ số tiền bằng chữ vẫn phải ghi theo Tiếng Việt.

Ví dụ: 10.000 USD thì phải ghi là “Mười nghìn đô la Mỹ”

(Căn cứ Điểm k Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014)

13. Sử dụng Tiếng Việt khi giao dịch với cơ quan Thuế

Tất cả các văn bản, hồ sơ nộp cho cơ quan Thuế phải sử dụng Tiếng Việt hoặc đính kèm bản dịch.

Doanh nghiệp tự biên dịch, tự ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm về chất lượng bản dịch. Nếu tài liệu bằng tiếng nước ngoài dài hơn hơn 20 trang giấy A4 thì chỉ cần lập văn bản giải trình và dịch những nội dung, điều khoản có liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế.

(Căn cứ Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013)

14. Hợp đồng kiểm toán với công ty ở nước ngoài phải có đủ 2 bản trong đó phải có 1 bản sử dụng Tiếng Việt

Các Công ty kiểm toán ở nước ngoài nếu có liên danh với doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới phải đảm bảo các hợp đồng kiểm toán, hợp đồng liên danh, hồ sơ kiểm toán và báo cáo kiểm toán được lập đồng thời bằng cả hai ngôn ngữ Tiếng Việt và Tiếng Anh.

Vi phạm quy định trên, bên nước ngoài sẽ bị đình chỉ 1 – 2 năm việc cung cấp dịch vụ xuyên biên giới đến Việt Nam và đơn vị liên danh tại Việt Nam cũng bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong thời hạn từ 1 đến 2 năm.

(Căn cứ Điều 48 Nghị định số 105/2013/NĐ-CP ngày 16/9/2013)

15. Kiến nghị gởi đến Bộ Thông tin và Truyền thông phải sử dụng Tiếng Việt

Các kiến nghị bằng văn bản hoặc lời nói gởi đến Bộ Thông tin và Truyền thông thông qua email: thutuchanhchinh@mic.gov.vn hoặc số điện thoại chuyên dùng (024) 3944 8539 phải là Tiếng Việt.

(Căn cứ Quyết định số 1175/QĐ-BTTTT ngày 29/7/2011)

16. Nhà thầu nước ngoài phải sử dụng Tiếng Việt để ghi chép sổ sách kế toán

Trường hợp Văn phòng điều hành Nhà thầu nước ngoài ghi chép kế toán bằng tiếng nước ngoài nhưng không xuất trình được sổ sách kế toán ghi chép bằng Tiếng Việt thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về kế toán.

(Căn cứ Công văn số 3045/TCT-KK ngày 13/8/2010)

CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ TƯ VẤN THUẾ MAN

  • Hỗ trợ tư vấn: Nguyễn Thị Kim Ngân – Director
  • Phone/ Zalo: 0903 428 622
  • Email: ngannguyen.pp@gmail.com

Ban biên tập: Man.net.vn

5/5 - (1 bình chọn)
Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tracking khác như Google Analytics... để cải thiện trải nghiệm duyệt web của bạn trên trang web của Man.net.vn
error: Thông báo: Nội dung được bảo vệ !!